Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2024/HS-ST

Ngày: 08 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC

-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Ngọc Linh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Kha, ông Đào Xuân Nhi.

Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Bích Thùy - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Đồng Xoài.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 77/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2024/HSST-QĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn T, sinh năm: 1981; tại Cà Mau; Tên gọi khác: không; Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn D, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn T1, sinh năm: 1953 và bà Trần Thị T2, sinh năm: 1957; Bị cáo có vợ là bà Nguyễn Thị M, sinh năm: 1982 và 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo được tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Bà Nông Thanh T3, sinh năm: 1984; Địa chỉ nơi cư trú: khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nông Thanh B, sinh năm: 1979; Địa chỉ nơi cư trú: khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (vắng mặt).

Ông Hứa Thanh T4, sinh năm: 1979; Địa chỉ nơi cư trú: Thôn D, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 13 giờ 54 phút ngày 28 tháng 02 năm 2023, bà Nông Thanh T3 điều khiển xe ô tô con nhãn hiệu KIA, loại Rondo, màu đỏ, biển số 93A-076.35 đi trên đường H theo hướng vòng xoay H đến UBND tỉnh B. Khi đến ngã tư giao nhau giữa đường H và Quốc lộ A thì xảy ra va chạm với xe ô tô cứu thương nhãn hiệu Toyota, loại Hiace, màu trắng, biển số 93B-009.04 do Trần Văn T điều khiển trên đường Quốc lộ 14 theo hướng huyện B đến thị xã C. Hậu quả làm xe ô tô con biển số 93A-076.35 và xe ô tô cứu thương biển số 93B-009.04 bị hư hỏng.

Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, ông Nông Thanh B (anh trai của bà T3) khi trên đường đi công việc đi ngang qua hiện trường vụ tai nạn phát hiện xe ô tô con biển số 93A-076.35 của bà T3 bị hư hỏng nhưng không thấy bà T3 nên đến hiện trường hỏi T về nguyên nhân vụ tai nạn thì T trả lời “Địt mẹ xe tớ ưu tiên mà nó cứ vượt”. Do bức xúc vì T nói tục lại vừa gây tai nạn làm xe ô tô của em gái mình bị hư hỏng nên anh B dùng tay tát 3-4 cái trúng vào vùng mặt của T thì được người dân can ngăn. Lúc này, ông Lê Văn A (chồng của bà T3), anh Nguyễn Thanh G và một số đồng nghiệp của anh A tại Công ty xổ số kiến thiết tỉnh B (gần hiện trường vụ tai nạn) đi đến hiện trường. Đến khoảng 14 giờ 45 phút cùng ngày, lực lượng CSGT Công an tỉnh B đến hiện trường giải quyết vụ tai nạn giao thông.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vào lúc 14 giờ 45 phút ngày 28/02/2023, xác định như sau:

Hiện trường chung nơi xảy ra TNGT là ngã tư, nơi giao nhau giữa đường Quốc lộ 14 và đường H thuộc khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Đường Quốc lộ 14 tổ chức giao thông là đường đôi rộng 33,60m; đường được trải bê tông nhựa, đoạn đường thắng, tầm nhìn không bị hạn chế. Hai bên đường có hè phố rộng 5,00m; ở giữa đường có dải phân cách cố định rộng 3,40m chia đường thành hai chiều đường, mỗi chiều đường rộng 15,10m; có vạch sơn chia thành 03 làn xe chạy.

Theo chiều đường từ huyện B đi thị xã C làn đường số một sát hè phố dành cho xe mô tô, gắn máy, xe thô sơ rộng 7,10m; làn đường thứ hai dành cho xe ô tô có chiều rộng là 3,5m; làn đường thứ ba dành cho xe ô tô có chiều rộng là 3,5m. Làn đường số một và làn đường số hai được phân chia bằng đinh phản quang nằm trong ô kẻ bằng vạch sơn liền nét có chiều rộng là 1m. Làn đường số hai và làn đường số ba được phân chia bởi vạch sơn trắng đứt nét. Ở gần đầu nơi giao nhau với đường H chia thành bốn làn gồm: Làn rẻ trái, làn đi thẳng, làn đi thẳng và rẻ phải, làn mô tô, xe gắn máy và xe thô sơ. Điểm mở giữa hai đầu dải phân cách rộng 43m, có vạch sơn dành cho người đi bộ qua đường, có hệ thống đèn tín hiệu giao thông, camera giám sát giao thông, vạch kẻ đường, biển báo hiệu đường bộ và vạch dừng, có biển cấm đi ngược chiều và biển hiệu lệnh chỉ hướng đi phải theo biển gộp làn đường theo phương tiện được gắn trên cột cấm vượt. Giữa giao lộ có vạch kẻ đường hình mắc võng. Hè phố bên phải đường Quốc lộ 14 hướng huyện B đi thị xã C có đặt bốn

biển báo hiệu: Biển giao nhau có tín hiệu đèn (biển 209), biển báo chỗ quay xe (biển 409), biển báo đường người đi bộ sang ngang (biển 423b), biển gộp làn đường theo phương tiện (biển R415).

Đường H được trải bê tông nhựa, hơi dốc theo chiều hướng từ ngã ba H đi UBND tỉnh B. Tổ chức giao thông là đường đôi có dải phân cách cố định ở giữa, hướng mỗi chiều có ba làn xe chạy, phần đường bên phải hướng từ ngã ba H đi UBND tỉnh có chiều rộng 12m, phần đường bên trái hướng ngược lại rộng 12m, có đèn tín hiệu, vạch kẻ đường dành cho người đi bộ. Hè phố bên phải hướng ngã ba H đi UBND tỉnh có đặt một biển báo W208 giao nhau với đường ưu tiên. Đường H đoạn đầu UBND tỉnh là đoạn đường hai chiều, không có dải phân cách cố định được chia thành hai làn, hướng mỗi chiều xe chạy có ba làn đường.

Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết như sau: Số (1) vị trí vết hằn. Số (2) vị trí vùng mảnh vỡ. Số (3) vị trí xe ô tô cứu thương biển số 93B-009.04. Số (4) vị trí xe ô tô biển số 93A-076.35.

Xác định điểm mốc và một trong các mép đường nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn: Chọn trụ điện số 28 trong hè phố bên phải đường Quốc lộ 14 hướng từ huyện B đi thị xã C làm điểm mốc. Chọn đường thẳng nối hai mép nhựa bên phải Quốc lộ 14 đoạn qua giao lộ làm mép đường chuẩn.

Hiện trường vụ tai nạn giao thông để lại như sau:

(1) Vết hằn trong giao lộ, có màu đen, chiều hướng hơi cong, mờ nhạt dần, kích thước (0,04x34,6)m. Đầu số (1) đo đến mép đường chuẩn là 6,7m; đầu số (1) đến tâm (2) là 15m; đầu số (1) đến tâm trục bánh sau bên trái số (3) là 34,6m; đầu số (1) đến đầu tâm trục bánh sau bên phải (4) là 32,5m; đầu số (1) đến điểm mốc là 61m.

(2) Vùng mảnh vỡ không rõ hình dạng nằm ở trong giao lộ, kích thước (15,0x6,5)m. T2 số (2) đo đến mép đường chuẩn là 7,0m; tâm số (2) đo đến tâm trục bánh sau bên trái (3) là 24,5m; tâm số (2) đo đến đầu tâm trục bánh sau bên phải (4) là 23,5m.

(3) Vị trí xe ô tô cứu thương biển số 93B-009.04 đỗ trên làn đường thứ ba sát dải phân cách giữa, đầu xe số (3) hướng đi thị xã C, đuôi số (3) hướng huyện B. Đầu tâm trục bánh xe trước bên phải số (3) đo đến mép đường chuẩn là 12,6m. Đầu tâm trục bánh xe sau bên phải số (3) đo đến mép đường chuẩn là 12,1m. Đầu tâm trục bánh xe sau bên trái số (3) đo đến đầu tâm trục bánh trước bên phải số (4) là 8,0m. Đầu tâm trục bánh trước bên phải số (3) đo đến điểm mốc trụ điện số 28 là 28,2m.

(4) Vị trí xe ô tô con biển số 93A-076.35 đỗ trên làn đường thứ ba hướng C đi B, đầu xe số (4) hướng đi C, đuôi xe số (4) hướng huyện B. Đầu tâm trục bánh xe trước bên phải số (4) đo đến mép đường chuẩn là 21,6m; đầu tâm trục bánh xe sau bên phải số (4) đo đến mép đường chuẩn là 22,1m.

Kết quả khám nghiệm các phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông như sau:

- Xe ô tô cứu thương biển số 93B-009.04: Mặt ga lăng phía trước bể bung ra khỏi vị trí cố định ban đầu kích thước (1,2x0,30m), điểm cao nhất cách mặt đất 1,0m, điểm thấp nhất cách mặt đất 0,78m. Cụm đèn phía trước bên trái bể, kích thước (0,60x0,20m), tâm cách mặt đất 0,75m. Cản xe phía trước bên trái cong, móp rách, chiều hướng từ trước ra sau, kích thước (0,70x0,50m) có dính nhiều vết sơn màu đỏ, điểm cao nhất cách mặt đất 0,75m, điểm thấp nhất cách mặt đất 0,10m. Két nước cong móp vào trong, có vết mài mòn kim loại, chiều hướng từ trước ra sau, kích thước (0,60x0,30m) điểm cao nhất cách mặt đất 0,70m, điểm thấp nhất cách mặt đất 0,20m. Sắt xi bên trái cong móp vào trong, chiều hướng từ trước ra sau, kích thước (0,80x0,10m) điểm cao nhất cách mặt đất 0,90m, điểm thấp nhất cách mặt đất 0,30m. Cánh cửa xe phía trước bên trái móp méo, cong vênh, chiều hướng từ trước ra sau, từ ngoài vào trong, có dính nhiều vết sơn màu đỏ, kích thước (1,0x1,4m), điểm cao nhất cách mặt đất 1,7m, điểm thấp nhất cách mặt đất 0,40m. Bậc lên xuống bên trái móp méo, cong vênh chiêu hướng từ trước ra sau. Lốp bánh xe phía trước bên trái có vết hằn, kích thước (0,50x0,15m), tâm vết hằn nằm ngay chữ R của dòng chữ R623, mâm bánh xe trước trái cong, chiều hướng từ ngoài vào trong, kích thước (0,20x0,02m), tâm vết cong cách tâm trục là 0,20m, cách chân van là 0,33m. Lốp đã xì hết hơi. Khi bật chìa khóa chính của xe, đèn táplô có hiển thị, khởi động xe bình thường. Kiếm tra hệ thống đèn quay ưu tiên, còi hú ưu tiên không hoạt động.

Ghi nhận an toàn kỹ thuật của phương tiện: Hệ thống côn, hệ thống phanh, hệ thống lái, hộp số, ga, còi, đèn chiếu sáng bên trái, đèn tín hiệu bên trái: Sau TNGT bị hư hỏng không kiểm tra được. Gương chiếu hậu, đồng hồ, gạt nước, lốp, đèn chiếu sáng bên phải, đèn tín hiệu (bên phải, phía sau) đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật.

- Xe ô tô biển số 93A-076.35: Cản trước trầy, xước, rách bung ra khỏi vị trí cố định ban đầu kích thước (1,90x0,9m). Mặt ga lăng bung ra khỏi vị trí cố định ban đầu kích thước (1,0x0,30m). Hệ thống đèn chiếu sáng, đèn gầm hư hỏng, bung khỏi vị trí ban đầu. Sương sắt xi phía trước bên trái móp méo, cong vênh không rõ hình thù kích thước (1,0x0,12m), điểm cao nhất cách mặt đất 0,90m, điểm thấp nhất cách mặt đất 0,67m. Két nước cong vênh, bung khỏi vị trí cố định, mặt trước có vết mài mòn kim loại chiều hướng từ phải sang trái, kích thước (0,70x0,53m), điểm cao nhất cách mặt đất 0,67m, điểm thấp nhất cách mặt đất 0,16m. Sắt xi phía trước bên phải cong vênh, móp méo, chiều hướng từ phải sang trái, kích thước (0,47x0,16m), điểm cao nhất cách mặt đất 0,58m, điểm thấp nhất cách mặt đất 0,12m. Nắp capo móp méo, cong vênh, bong tróc sơn, bên phải bung ra khỏi vị trí ban đầu, chiều hướng từ phải sang trái, kích thước (1,50x0,70m). Chắn bùn phía trước bên phải móp méo, cong vênh, tróc sơn, móp vào trong chiều hướng từ phải sang trái, có dính vết sơn màu trắng, kích thước (0,15x0,30m), tâm cách mặt đất 0,75m. Lốp bánh xe bên phải có vết hằn kích thước (0,20x0,02m), tâm vết hằn nằm ngay chữ M của dòng chữ MICHELIN, cách tâm trục 0,30m. Cần gạt nước bên phải hư hỏng, kính chắn gió phía trước bị bể, rạn nứt nhiều chỗ, kích thước (1,10x1,40m). Bên trong xe 2 (hai) túi khí phía trước bung ra khỏi vị trí ban đầu.

Ghi nhận an toàn kỹ thuật của phương tiện: Hệ thống lái, phanh, côn, ga, đèn, còi, hộp số, đồng hồ, gạt nước: Sau TNGT bị hư hỏng không kiểm tra được. Hệ thống lốp, gương chiếu hậu đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 793/KL-HĐĐGTS ngày 28 tháng 3 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản vi phạm hành chính UBND tỉnh B, kết luận xác định giá trị thiệt hại:

- Xe ô tô mang biển kiểm soát 93A-076.35 theo đề nghị của Phòng C – Công an tỉnh tại Quyết định số 104/QĐ-TCGĐ ngày 02/3/2023 là 238.179.000 đồng (Hai trăm ba mươi tám triệu, một năm bảy mươi chín ngàn đồng).

- Xe ô tô mang biển kiểm soát 93B-009.04 theo đề nghị của Phòng C – Công an tỉnh tại Quyết định số 104/QĐ-TCGĐ ngày 02/3/2023 là 79.884.915 đồng (Bảy mươi chín triệu, tám trăm tám mươi tư ngàn, chín trăm mười lăm đồng).

Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 89/KL-HĐĐGTS ngày 17/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS UBND thành phố Đ, kết luận:

- Xe ô tô biển số 93A-076.35 nhãn hiệu KIA, loại Rondo PR 20G E2 AT, thời điểm định giá tháng 3/2023 giá trị thiệt hại 238.179.000 đồng.

- Xe ô tô biển số 93B-009.04 hiệu Toyota, thời điểm định giá tháng 3/2023 giá trị thiệt hại 79.884.915 đồng.

Xử lý vật chứng: Ngày 28 tháng 4 năm 2023, Phòng C Công an tỉnh B ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 xe ô tô con nhãn hiệu KIA, loại Rondo, màu đỏ, biển số 93A-076.35, 01 giấy chứng nhận đăng ký số 011783, 01 giấy chứng nhận kiểm định ATKT và BVMT số DA 4045812, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm TNDS số 0123456, 01 xe ô tô cứu thương nhãn hiệu Toyota, loại Hiace, màu trắng, biển số 93B-009.04, 01 giấy chứng nhận đăng ký số 015825, 01 giấy chứng nhận kiểm định số EA 1284668 và 01 giấy phép sử dụng thiết bị phát tín hiệu của xe được quyền ưu tiên số 000262 cho bà Nông Thanh T3Trần Văn T là các chủ sở hữu hợp pháp.

Ngày 15 tháng 5 năm 2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 Giấy phép lái xe hạng B2 số 7701160183839 cấp ngày 13/6/2016 mang tên Nông Thanh T3 cho bà Nông Thanh T3 là chủ sở hữu hợp pháp.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trần Văn T đã bồi thường số tiền: 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng cho bị hại bà Nông Thanh T3.

Tại bản cáo trạng số: 96/CT-VKS-ĐX ngày 31 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Xoài truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51;

Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn T mức án từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Bị cáo Trần Văn T tại phiên tòa đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài: Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng số: 96/CT-VKS ngày 31 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng, phù hợp với kết luận điều tra, kết luận giám định pháp y, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, các dấu vết để lại hiện trường, vật chứng vụ án cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Thấy, phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm và phương thức thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 13 giờ 54 phút ngày 28 tháng 02 năm 2023, Trần Văn T có hành vi điều khiển xe ô tô cứu thương nhãn hiệu Toyota, loại Hiace, màu trắng, biển số 93B-009.04 không còn giấy phép ưu tiên, lưu thông trên đường Quốc lộ 14 theo hướng huyện B đến thị xã C. Khi đi đến ngã tư giao nhau giữa đường H và Quốc lộ A thuộc khu phố P, phường T, thành phố Đ thì vượt đèn đỏ va chạm với xe ô tô con nhãn hiệu KIA, loại Rondo, màu đỏ, biển số 93A-076.35 do bà Nông Thanh T3 điều khiển đi trên đường H theo hướng vòng xoay H đến UBND tỉnh B, dẫn đến va chạm gây tai nạn giao thông. Hậu quả làm cho xe ô tô con nhãn hiệu KIA, loại Rondo, màu đỏ, biển số 93A-076.35 của bà T3 bị thiệt hại trị giá 238.179.000 đồng. Hành vi của Trần Văn T đã vi phạm điểm b khoản 7 Điều 6 Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ; Vi phạm khoản 1, khoản 5 Điều 4, khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ.

Căn cứ vào hành vi trên, bị cáo đã phạm vào tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Do bị cáo điều khiển xe ô tô tham gia giao thông không còn giấy phép ưu tiên, vượt đèn đỏ không đảm bảo an

toàn, không nhường đường, không chú ý quan sát khi đến nơi giao nhau gây tại nạn, làm hư hỏng xe của người bị hại gây thiệt hại tài sản là 238.179.000 đồng nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm d khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người bị hại và các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn giao thông. Bị cáo là người đã thành niên, khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông trên đường bị cáo hoàn toàn nhận thức được việc điều khiển xe cứu thương không còn giấy phép ưu tiên, vượt đèn đỏ không đảm bảo an toàn, không nhường đường là hành vi vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Do đó cần thiết phải có mức hình phạt đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Tuy nhiên, xét thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng, đồng thời có nhiều tình tiết giảm nhẹ như: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã bồi thường khắc phục thiệt hại cho người bị hại. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Người bị hại cũng có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự được Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt.

Xét thấy, bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, do đó không cần thiết phải cách ly bị cáo để giáo dục mà chỉ cần cho bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội, cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách, giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về áp dụng hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử không áp dụng.

[5] Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng C số [...] mang tên Trần Văn T.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận tiền bồi thường và không có yêu cầu gì thêm nên hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Xoài tại phiên tòa là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận một phần.

[8] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 260; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Văn T 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo.

Thời gian thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Tuyên giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Trần Văn T 01 Giấy phép lái xe hạng C số [...] mang tên Trần Văn T.

4. Về án phí sơ thẩm:

Áp dụng Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND Thành phố Đồng Xoài;
  • - VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - Chi cục THADS Thành phố Đồng Xoài;
  • - UBND phường Tiến Thành;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước.
  • - CA Thành phố Đồng Xoài;
  • - Phòng PV 06 Công an tỉnh BP;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS-VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Ngô Ngọc Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 111/2024/HS-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 111/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger