Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Bản án số: 111/2024/HS-PT

Ngày: 07/6/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Trọng Danh

Các Thẩm phán: Ông Ngô Hà Nam

Thái Thị Phi Yến

- Thư ký phiên toà: Ông Phan Hồng Lĩnh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 86/2024/TLPT-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Bùi Văn V, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2024/HS-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

Bị cáo có kháng cáo:

BÙI VĂN V, sinh ngày 12/12/1981 tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn T và bà Trần Thị T1; Có vợ là Mai Thị X và 02 con (con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2013). Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 08/8/2022, bị Chủ tịch UBND tỉnh V xử phạt vi phạm hành chính 51.000.000 đồng về hành vi điều khiển xe có phù hiệu nhưng đã hết giá trị sử dụng và điều khiển xe mà tổng trọng lượng của xe vượt quá tải trọng cho phép của đường trên 50% (Quyết định số 1599/QĐ-XPHC ngày 08/8/2022). (Chấp hành xong ngày 09/5/2023)

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Bùi Văn V: Luật sư Đinh Văn T2 và Luật sư Nguyễn Thị Bảo T3 – Công ty L, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đ; Luật sư T3 có mặt, Luật sư T2 vắng mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Đinh Ngọc Đ, nhưng bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 23/4/2023, Bùi Văn V cùng phụ xe là ông Huỳnh Minh H và ông Trần Văn N nhận và điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS: 88H-000.62 kéo theo sơ mi rơ moóc BKS: 29R-032.54 (chở xe máy chuyên dùng) lưu thông từ tỉnh Hà Tĩnh đi thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình đi thì V giao 01 giấy phép lái xe hạng FC của V cho H để H cầm xuất trình cùng các giấy tờ của phương tiện khi bị lực lượng chức năng kiểm tra.

Đến khoảng 23h30' ngày 24/4/2023, Huỳnh Minh H là người điều khiển xe ô tô kéo sơ mi rơ moóc đến đoạn K đường C - Quảng Ngãi thuộc địa phận xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng thì bị Tổ tuần tra của Đội TTKSGTĐBCT số E - Phòng 8 - Cục C kiểm tra phương tiện xe ô tô cùng sơ mi rơ moóc thì phát hiện có hành vi vi phạm: Không thực hiện đúng quy định trong giấy phép lưu hành xe quá khổ, giới hạn đường bộ chở hàng siêu trường. Tiếp tục kiểm tra các giấy tờ của phương tiện cùng giấy phép lái xe hạng FC mang tên Bùi Văn V do Hoàng cung cấp thì phát hiện giấy phép lái xe mang tên Bùi Văn V không do cơ quan có thẩm quyền cấp và 01 chứng nhận đăng ký ro moóc, sơ mi rơ moóc BKS: 29R-032.54 nghi là giả, nên Tổ tuần tra đã lập biên bản sự việc và tạm giữ các giấy tờ trên. Đến ngày 25/4/2023, Đội tuần tra chuyển hồ sơ nói trên cho Cơ quan CSĐT Công an huyện H thụ lý giải quyết

Qua điều tra xác định các hành vi như sau:

Bùi Văn V đã có giấy phép lái xe hạng FC số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 05/01/2019. Vào khoảng năm 2022 Bùi Văn V có nhu cầu làm thêm một giấy phép lái xe giả hạng FC nói trên nên V đã dùng Facebook cá nhân nhắn tin với một trang mạng (không nhớ tên trang mạng) trên mạng xã hội Facebook để đặt làm giả một giấy phép lái xe hạng FC, V cung cấp hình ảnh, thông tin cá nhân lấy từ giấy phép lái xe thật của V cho trang mạng trên đồng thời thống nhất chi phí làm giấy phép lái xe nói trên là 1.100.000 đồng (một triệu một trăm nghìn đồng). Khoảng 02 ngày sau, V nhận được 01 Giấy phép lái xe hạng FC số [...] do sở G cấp ngày 05/01/2019 tại phòng trọ của V tại thành phố Hồ Chí Minh qua một người giao hàng, đồng thời V thanh toán chi phí làm giấy phép lái xe 1.100.000 đồng cho người này. Đến khoảng tháng 4 năm 2023, thông qua mối quan hệ Bùi Văn V liên lạc với anh Nguyễn Duy K để xin lái xe thì anh K đồng ý giao cho V điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS: 88H- 000.62 kéo theo sơ mi rơ mooc BKS: 29R-032.54. Trên đường đi, Bùi Văn V giao giấy phép lái xe làm giả cho Huỳnh Minh H để cung cấp cho cơ quan chức năng nếu bị kiểm tra hành chính, H không biết giấy phép lái xe V đưa là giả.

Đối với sơ mi rơ moóc BKS: 29R-032.54 là tài sản của Công ty TNHH V1 do Đ làm giám đốc. Vào năm 2015, Công ty TNHH V1 đã thế chấp tài sản là sơ mi rơ móoc tải BKS: 29R-032.54 tại Ngân hàng TMCP V2 (Ngân hàng) nên giấy đăng ký (bản gốc) của sơ mi rơ móoc nêu trên do Ngân hàng giữ, sau 03 tháng Ngân hàng sẽ cấp lại cho giấy chứng nhận đăng ký (bản photo chứng thực) cho Đ. Đến năm 2016 do làm ăn khó khăn không có tiền đóng lãi và gốc cho Ngân hàng, nên Ngân hàng không cung cấp tiếp cho Đ giấy chứng nhận đăng ký sơ mi rơ móọc cho Đ. Vì vậy, để tiếp tục lưu hành sơ mi rơ moóc BKS: 29R-032.54 khi tham gia giao thông và qua mặt các cơ quan chức năng nên Đ đã lấy thông tin của giấy đăng ký nêu trên để lên mạng đặt làm giả 01 chứng nhận đăng ký rơ moóc, sơ mi rơ moóc BKS: 29R-032.54 số 008007 do Phòng CSGT Công an thành phố H cấp ngày 26/8/2015 với giá là 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng). Đến khoảng tháng 10 năm 2020, Đinh Ngọc Đ thoả thuận bằng miệng bán sơ mi rơ mooc BKS: 29R-032.54 cho ông Nguyễn Duy K với giá 400.000.000 đồng, khi giao xe và giấy tờ xe cho ông K, Đ giao chứng nhận đăng ký giả. Đến ngày 18/02/2021, hai bên lập hợp đồng mua bán nhưng ông K chưa làm thủ tục sang tên. Sau khi bị phát hiện chứng nhận đăng ký giả, theo yêu cầu của ông K, Đ mới gửi giấy chứng nhận đăng ký rơ moóc, sơ mi rơ moóc BKS: 29R- 032.54 đúng quy định bằng đường bộ cho ông Trần Văn N nhận và giao cho ông Hoàng cung c cho cơ quan Cảnh sát điều tra.

Tang vật tạm giữ:

  • - 01 (một) xe ô tô đầu kéo BKS: 88H-000.62.
  • - 01 sơ mi rơ moóc (chở xe, máy chuyên dùng) BKS: 29R-032.54.
  • - 01 giấy biên nhận thế chấp xe ô tô đầu kéo BKS: 88H- 000.62 số 04219/2020/BNTC-SHB-112500 (bản gốc).
  • - 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô BKS: 88H-000.62.
  • - 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định sơ mi rơ moóc BKS: 29R-032.54.
  • - 01 Giấy phép lái xe hạng FC, số [...] mang tên Bùi Văn V do sở G cấp ngày 05/01/2019, số phôi: BB829098 và 01 Chứng nhận đăng ký sơ mi rơ moóc số 008007, do Phòng CSGT Công an thành phố H cấp ngày 26/08/2015, biển số đăng ký: 29R-032.54.
  • - 01 Giấy phép lái xe hạng FC, số [...], do sở G cấp ngày 05/01/2019, số phôi: BB829098 do Bùi Văn V cung cấp.
  • - 01 Chứng nhận đăng ký sơ mi rơ moóc số 008007, do Phòng CSGT Công an thành phố H cấp ngày 26/08/2015, biển số đăng ký: 29R-032.54 do Huỳnh Minh Hoàng cung c1.

Tại Kết luận giám định số: 416/KLTL-KTHS ngày 23/5/2023 của Phòng K1 Công an thành phố Đ kết luận: 01 Giấy phép lái xe hạng FC, số [...] mang tên Bùi Văn V do sở G cấp ngày 05/01/2019, số phôi: BB829098 là giấy phép lái xe giả.

Tại Kết luận giám định số: 525/KL-KTHS ngày 22/6/2023 của Phòng K1 Công an thành phố Đ kết luận: Chữ ký mang tên Thượng tá Nguyễn Ngọc M trên giấy chứng nhận đăng ký rơ moóc, sơ mi rơ moóc BKS: 29R-032.54 số 008007 do Phòng CSGT Công an thành phố H cấp ngày 26/8/2015 trên các mẫu so sánh từ M1 đến M5 không phải do cùng một người ký ra.

Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2024/HS-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn V phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức".

Căn cứ khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn V 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định hình phạt chính đối với bị cáo Đinh Ngọc Đ về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” và xử phạt bổ sung bị cáo Đ số tiền 20.000.000 đồng; quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo.

Ngày 07/3/2024, bị cáo Bùi Văn V có đơn kháng cáo với nội dung: Đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Bùi Văn V thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu và kết luận; bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo xin Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình của bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động chính nuôi 02 con ăn học, qua đó cho bị cáo được hưởng án treo hoặc hình phạt nhẹ hơn để tiếp tục lao động, chăm lo cho gia đình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Đơn kháng cáo của bị cáo có đầy đủ nội dung theo thủ tục kháng cáo và trong thời hạn luật định nên đảm bảo hợp lệ.

Về nội dung kháng cáo của bị cáo:

Bản án sơ thẩm số 19/2024/HS-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo Bùi Văn V về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, xử phạt bị cáo mức hình phạt 06 tháng tù là phù hợp, không nặng. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn V, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Luật sư Nguyễn Thị Bảo T3 bào chữa cho bị cáo Bùi Văn V cho rằng hành vi phạm tội chưa gây ra hậu quả nghiêm trọng nào cho xã hội nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi lượng hình đối với bị cáo. Luật sư cũng đề nghị Hội đồng xét xử khi quyết định hình phạt cần xem xét đến các tình tiết khác như: bị cáo phạm tội xuất phát từ sự thiếu hiểu biết quy định pháp luật; bị cáo đã chấp hành xong Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo được xem là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, hành vi bị xử lý vi phạm hành chính cũng không có dấu hiệu tội phạm được Bộ luật Hình sự quy định nên đề nghị không xác định bị cáo có nhân thân xấu; hoàn cảnh gia đình của bị cáo khó khăn, cha đã mất, mẹ già 85 tuổi, bị cáo đang nuôi 02 con nhỏ, vợ không có công việc, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Bùi Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định:

Vào khoảng cuối năm 2022, Bùi Văn V có giấy phép lái xe hạng FC nhưng đã bị Cảnh sát giao thông tạm giữ, nhằm qua mặt cơ quan chức năng khi lưu thông vận tải nên V thông qua mạng xã hội Facebook cung cấp thông tin để đặt làm giả 01 Giấy phép lái xe hạng FC, số [...] do sở GTVT tỉnh Đ cấp ngày 05/01/2019, số phôi: BB829098. Đến khoảng 23h30' ngày 24/4/2023, khi lưu thông xe ô tô kéo sơ mi rơ moóc đến đoạn K đường C - Quảng Ngãi thuộc địa phận xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng thì bị lực lượng Cảnh sát giao thông kiểm tra, phát hiện giấy phép lái xe giả.

Với hành vi trên, Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2024/HS-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo Bùi Văn V về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[2]. Xét kháng cáo của bị cáo Bùi Văn V, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn thành phố. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, sẽ phải chịu các chế tài của pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp thực hiện hành vi phạm tội.

Do đó, đối với bị cáo cần xử phạt một hình phạt tương xứng, đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tòa án cấp sơ thẩm khi quyết định hình phạt đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cũng như nhân thân của bị cáo, đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Bùi Văn V 06 tháng tù là có cơ sở. Tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo bổ sung các tài liệu được chính quyền địa phương xác nhận thể hiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, có mẹ và con nhỏ bị bại liệt phải nằm một chỗ, vợ không có công việc ổn định; gia đình có công với cách mạng. Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm thấy rằng, bị cáo Bùi Văn V có nhân thân bị xử phạt về hành vi vi phạm hành chính thông thường, không có dấu hiệu tội phạm; bị cáo lần đầu phạm tội, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho cải tạo giáo dục tại địa cũng đảm bảo tác dụng giáo dục, răn đe và không ảnh hưởng đến công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, chuyển từ hình phạt tù sang hình phạt cải tạo không giam giữ.

Xét luận cứ bào chữa của Luật sư Nguyễn Thị Bảo T3 đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo V, Hội đồng xét xử xác định hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính nhà nước nên không chấp nhận đề nghị của Luật sư.

Theo khoản 3 Điều 36 Bộ luật Hình sự, người bị kết án cải tạo không giam giữ có thể bị khấu trừ thu nhập từ 5% đến 20% để sung công quỹ Nhà nước, nhưng do bị cáo làm nghề lái xe, phải nuôi con nhỏ và mẹ bị bại liệt, vợ không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

[3] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn V, sửa bản án sơ thẩm.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn V: 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Thời gian chấp hành án cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục bị cáo nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Bùi Văn V về cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo T4 có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân phường trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội;

Bị cáo Bùi Văn V không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Đà Nẵng;
  • - VKSND huyện Hòa Vang;
  • - Cơ quan CSĐT CQH Hòa Vang;
  • - TAND huyện Hòa Vang;
  • - Chi cục THADS huyện Hòa Vang;
  • - Sở Tư pháp TPĐN;
  • - Bị cáo;
  • - Vụ giám đốc kiểm tra 1;
  • - Lưu: HS; HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký và đóng dấu)

Bùi Trọng Danh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 111/2024/HS-PT ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về vụ án hình sự về tội "làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức"

  • Số bản án: 111/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức"
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 07/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng cuối năm 2022, Bùi Văn V có giấy phép lái xe hạng FC nhưng đã bị Cảnh sát giao thông tạm giữ, nhằm qua mặt cơ quan chức năng khi lưu thông vận tải nên V thông qua mạng xã hội Facebook cung cấp thông tin để đặt làm giả 01 Giấy phép lái xe hạng FC, số 790108016310 do sở GTVT tỉnh Đ cấp ngày 05/01/2019, số phôi: BB829098. Đến khoảng 23h30’ ngày 24/4/2023, khi lưu thông xe ô tô kéo sơ mi rơ moóc đến đoạn K đường C - Quảng Ngãi thuộc địa phận xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng thì bị lực lượng Cảnh sát giao thông kiểm tra, phát hiện giấy phép lái xe giả.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger