Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHƯƠNG MỸ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 111/2024/HSST

Ngày: 06-9-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - TP. HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tiến Lợi; bà Nguyễn Thị Hà

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Minh Vương – Kiểm sát viên.

Ngày 06/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 95/2024/TLST - HS ngày 11 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2024/QĐXXST-HS ngày 22/7/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2024/HSST-QĐ ngày 07/8/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 48/2024/HSST-QĐ ngày 23/8/2024 đối với các bị cáo:

1. Trần Văn M, sinh năm 1994; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn G, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Trần Văn H, con bà Lê Thị C; Vợ: Nguyễn Thị N và 02 con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2021; D chỉ bản số 226 lập ngày 29/3/2024 tại Công an huyện C;

Tiền án, tiền sự : Không.

Tạm giữ: Từ ngày 23/3/2024 đến ngày 29/3/2024. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

2. Đỗ Công T, sinh năm 1990; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn V, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Đỗ Công T1, con bà Hoàng Thị T2; Vợ: Nguyễn Thị Y và có 01 con, sinh năm 2015; D chỉ bản số 235 lập ngày 01/4/2024 tại Công an huyện C;

Tiền sự: Không

Tiền án: Bản án số 67/HSST ngày 16/5/2018, TAND huyện Chương Mỹ xử phạt 7 năm 6 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Nộp án phí ngày 25/9/2018, chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/5/2023. (Chưa xóa án tích).

Tạm giữ, tạm giam: Từ ngày 23/3/2024 đến nay. Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2- Công an thành phố H. Có mặt.

3. Đỗ Thanh T3, sinh năm 1973; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn B, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Đỗ Văn T4; con bà Trần Thị M1; Vợ: Nguyễn Thị B và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2012; D chỉ bản số 229 lập ngày 29/3/2024 tại Công an huyện C; Tiền án, Tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • Bản án số 118/HSST ngày 20/11/2009, TAND huyện Chương Mỹ xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc. (Đã xóa án tích).
  • Bản án số 129/HSST ngày 19/03/2012, TAND quận Hà Đông xử phạt 06 tháng tù về tội Đánh bạc. (Đã xóa án tích).

Tạm giữ, tạm giam: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

4. Nguyễn Bá C1, sinh năm 1973; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn V, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Bá N1, con bà Hạ Thị Đ; Vợ: Nguyễn Thị T5 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2006; D chỉ bản số 228 lập ngày 29/3/2024 tại Công an huyện C; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 08/08/2012 Công an huyện C xử phạt hành chính số tiền 2.000.000 đồng về hành vi Đánh bạc, đã nộp phạt ngày 10/8/2012 (đã xóa).

Tạm giữ: Từ ngày 23/3/2024 đến ngày 29/3/2024. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

5. Trịnh Đình T6, sinh năm 1977; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn T, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Trịnh Đình B1, con bà Nguyễn Thị T7; Vợ: Lê Thị T8 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2006. D chỉ bản số 224 lập ngày 29/3/2024 tại Công an huyện C; Tiền án, Tiền sự: Không.

Tạm giữ, tạm giam: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

6. Đỗ Xuân L, sinh năm 1955; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn G, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Đỗ Viết T9, con bà Trần Thị B2; Vợ: Nguyễn Thị T5 và 07 con, lớn nhất sinh năm 1976, nhỏ nhất sinh năm 1994; D chỉ bản số 225 lập ngày 29/3/2024 tại Công an huyện C; Tiền án, Tiền sự: Không.

Tạm giữ, tạm giam: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

7. Nguyễn Trọng N2, sinh năm 1987; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn G, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Trọng P, con bà Đặng Thị T10; Vợ, con: Chưa có. D chỉ bản số 227 lập ngày 29/3/2024 tại Công an huyện C; Tiền án, Tiền sự: Không.

Tạm giữ, tạm giam: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

8. Nguyễn Trọng H1, sinh năm 1974; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn B, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Chủ nhiệm Hợp tác xã T14; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam bị đình chỉ sinh hoạt đảng số 242 ngày 04/7/2024. Con ông: Nguyễn Trọng N3, con bà Lê Thị N4; Vợ: Đỗ Thị N5 và 03 con, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2007; D chỉ bản số 223 lập ngày 29/3/2024 tại Công an huyện C; Tiền án, Tiền sự: Không.

Tạm giữ: Từ ngày 23/3/2024 đến ngày 26/3/2024. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

9. Tô Văn M2, sinh năm 1985; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn Y, xã Đ, huyện C, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Tô Văn B3, con bà Nguyễn Thị V; Vợ: Nguyễn Thị T11 và 03 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2022; D chỉ bản số 230 lập ngày 29/3/2024 tại Công an huyện C; Tiền án, Tiền sự: Không.

Tạm giữ: Từ ngày 23/3/2024 đến ngày 29/3/2024. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do hám lời nên Trần Văn M đã nảy sinh ý định tổ chức cho các đối tượng đánh bạc bằng hình thức đánh chắn quãng được thua bằng tiền tại nhà để thu lợi bất chính. Để phục vụ cho việc đánh bạc, M đã lắp đặt 04 mắt camera xung quanh nhà để khi có các đối tượng đến đánh bạc, M sẽ quan sát camera để cảnh giới, tránh bị lực lượng Công an bắt giữ.

Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 23/03/2024, Trần Văn M đang ở nhà tại thôn G, xã T, huyện C thì có Nguyễn Bá C1 và Nguyễn Trọng H1 đến chơi. M tự hiểu là C1 và H1 muốn đánh bạc nên M đã gọi điện thoại rủ thêm Tô Văn M2 và Đỗ Công T đến nhà M đánh bạc. Khoảng gần 13 giờ cùng ngày khi C1, H1, M2 và T đang ở nhà M thì M đã chuẩn bị 02 bộ bài chắn, 01 đĩa men sứ phục vụ cho mọi người đánh bạc dưới hình thức đánh chắn được thua bằng tiền, M là người chia bài (Chiếu thứ 1).

Sau đó, đến khoảng 14 giờ cùng ngày thì có thêm Đỗ Thanh T3, Đỗ Xuân L, Trịnh Đình T6 và Nguyễn Trọng N2 đến nhà M đánh bạc. M lại chuẩn bị thêm 02 bộ

bài chắn, 01 đĩa men sứ cho mọi người đánh bạc, M cũng là người chia bài. (Chiếu thứ 2).

Quá trình đánh bạc, các đối tượng quy ước: ù xuông 60.000 đồng, dịch 20.000 đồng, ù tôm 100.000 đồng, lèo 120.000 đồng, Bạch thủ chì 120.000 đồng, bạch định 140.000 đồng, tám đỏ 160.000 đồng ... ngoài ra còn một số cước sắc khác. Nếu có ai ù một trong bốn cước gồm: Tám đỏ, Bạch định, Bạch Thủ chì hoặc Tôm Lèo thì những người chơi phải trả thêm cho người ù 100.000 đồng, người thắng sẽ bỏ ra số tiền “Gà” 30.000 đồng cho chủ nhà (M) được hưởng. Quá trình các đối tượng đánh bạc, M đã thu được tiền gà của chiếu thứ 1 số tiền 660.000 đồng, chiếu thứ 2 số tiền 360.000 đồng. Tổng số tiền gà M hưởng lợi là 1.020.000 đồng.

Chiếu thứ 2 đánh bạc đến khoảng 15 giờ 30 phút ngày 23/3/2024 thì nghỉ chơi do L hết tiền nên N2 đi về, những người còn lại ngồi xem mọi người đánh bạc. Ngoài ra còn có anh Hà Huy T12, Đỗ Viết Q, Trần Văn S, Nguyễn Trọng P1, Nguyễn Trọng T13 và Trần Văn C2 đến nhà M chơi nhưng không tham gia đánh bạc.

Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, M quan sát màn hình tivi trích từ camera ngoài cổng thấy có Công an đến nên M đã hô “Công an đến ...” nên các đối tượng tự vơ tiền của mình, M thì gom 02 chiếu lại cùng với các bộ bài và đĩa men sứ ném vào gầm ghế. Tuy nhiên, lực lượng công an đã bắt giữ toàn bộ những người có mặt, không ai bỏ chạy. Lực lượng công an đã thu giữ toàn bộ tang vật, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và đưa về trụ sở để làm việc.

Ngày 27/03/2024, Nguyễn Trọng N2 đã ra Công an huyện C khai nhận hành vi phạm tội của bản thân, đồng thời nộp lại số tiền 2.600.000 đồng sử dụng đánh bạc.

* Vật chứng thu giữ:

  • 01 (một) đầu thu camera nhãn hiệu Ahua; 04 (bốn) mắt camera nhãn hiệu Ahua; 01 (một) ti vi S1, kích thước (120x65)cm, mã sản phẩm UA49M55AKXXV, phiên bản FA01, Mẫu sản phẩm UA49M5500AK, kiểu sản phẩm UA49M5500.
  • 04 (bốn) bộ bài chắn, mỗi bộ A quân bài; 02 (hai) đĩa men sứ; 02 (hai) khay nhựa; 02 (hai) chiếu cói.

Tổng số tiền thu giữ: 12.690.000 đồng trong đó: Tiền gà 1.020.000 đồng (M giao nộp); Số tiền các đối tượng sử dụng đánh bạc cất giấu trong người tự nguyện giao nộp gồm: Tô Văn M2 530.000 đồng; Nguyễn Bá C1 2.700.000 đồng; Đỗ Công T 1.800.000 đồng; Đỗ Thanh T3 720.000 đồng; Đỗ Xuân L 20.000 đồng và Trịnh Đình T6 3.300.000 đồng; Nguyễn Trọng N2 2.600.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, các bị can đã khai nhận hành vi phạm tội như sau:

1. Trần Văn M khai nhận: Do hám lợi nên M đã lắp đặt 04 mắt camera xung quanh nhà và tổ chức cho một số đối tượng đánh bạc dưới hình thức đánh “chắn quăng” tại nhà ở của mình vào ngày 23/3/2024 nhằm thu tiền gà. M đã trải chiếu và cung cấp

cho các đối tượng 04 bộ bài chắn, 02 đĩa men sứ, 02 khay nhựa để làm dụng cụ đánh bạc. Các đối tượng chia làm hai chiếu bạc mỗi chiếu sử dụng 02 bộ bài chắn, 01 đĩa men sứ, M là người trực tiếp chia bài cho cả hai chiếu; số tiền sử dụng số tiền đánh bạc như sau: chiếu thứ nhất gồm Tô Văn M2, Nguyễn Bá C1, Nguyễn Trọng H1, Đỗ Công T đã sử dụng 5.690.000 đồng, chiếu thứ hai gồm Đỗ Thanh T3, Đỗ Xuân L, Trịnh Đình T6, Nguyễn Trọng N2 sử dụng 7.000.000 đồng. Đến 15 giờ 30 phút cùng ngày chiếu thứ hai nghỉ đánh bạc do L hết tiền trước và đến 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi các đối tượng ở chiếu thứ nhất đang đánh bạc thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. M đã tự nguyện giao nộp tổng số tiền gà thu được là 1.020.000 đồng.

2. Đỗ Công T khai nhận: khi tham gia đánh bạc, T có 1.200.000 đồng, sử dụng toàn bộ vào mục đích đánh bạc cùng với C1, H1 và M2 (tại chiếu thứ nhất). Khi bị lực lượng công an bắt quả tang, T đã tự nguyện giao nộp số tiền 1.800.000 đồng trong người là số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc.

3. Nguyễn Trọng H1 khai nhận: Khi tham gia đánh bạc, H1 có 2.000.000 đồng, sử dụng toàn bộ vào mục đích đánh bạc với C1, M2 và T (tại chiếu thứ nhất). Khi bị lực lượng công an bắt quả tang, H1 đã thua hết tiền.

4. Nguyễn Bá C1 khai nhận: khi tham gia đánh bạc, C1 có 1.540.000 đồng, sử dụng toàn bộ vào mục đích đánh bạc với M2, H1 và T (tại chiếu thứ nhất). Khi bị lực lượng công an bắt quả tang, C1 đã tự nguyện giao nộp số tiền 2.700.000 đồng trong người là số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc.

5. Tô Văn M2 khai nhận: khi tham gia đánh bạc, M2 có 950.000 đồng, sử dụng toàn bộ vào mục đích đánh bạc với H1, C1 và T (tại chiếu thứ nhất). Khi bị lực lượng công an bắt quả tang, M2 đã tự nguyện giao nộp số tiền 530.000 đồng trong người là số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc.

6. Trịnh Đình T6 khai nhận: khi tham gia đánh bạc, T6 có 2.300.000 đồng, sử dụng toàn bộ vào mục đích đánh bạc với T3, L và N2 (tại chiếu thứ hai). Khi bị lực lượng công an bắt quả tang, T6 đã tự nguyện giao nộp số tiền 3.300.000 đồng trong người là số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc.

7. Đỗ Thanh T3 khai nhận: khi tham gia đánh bạc, T3 có 1.600.000 đồng, sử dụng toàn bộ vào mục đích đánh bạc với T6, L và N2 (tại chiếu thứ hai). Khi bị lực lượng công an bắt quả tang, T3 đã tự nguyện giao nộp số tiền 720.000 đồng trong người là số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc.

8. Đỗ Xuân L khai nhận: khi tham gia đánh bạc, L có 1.500.000 đồng, sử dụng toàn bộ vào mục đích đánh bạc với T6, T3 và N2 (tại chiếu thứ hai). Khi bị lực lượng công an bắt quả tang, L đã tự nguyện giao nộp số tiền 20.000 đồng trong người là số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc.

9. Nguyễn Trọng N2 khai nhận: khi tham gia đánh bạc, N2 có 1.600.000 đồng, sử dụng toàn bộ vào mục đích đánh bạc với T6, T3 và L (tại chiếu thứ hai). Do tại chiếu

thứ 2 Lũy đã thua hết tiền nên dừng đánh, N2 thắng bạc và mang tổng số tiền 2.600.000 đồng ra về trước khi lực lượng công an bắt quả tang. Sau khi ra trình diện, N2 đã tự nguyện nộp lại số tiền trên.

Quá trình điều tra thu thập chứng cứ vụ án, có đủ cơ sở xác định tổng số tiền 12.690.000 đồng (Mười hai triệu sáu trăm chín mươi nghìn đồng) là số tiền các đối tượng sử dụng cho mục đích đánh bạc. Trong đó, số tiền sử dụng để đánh bạc tại chiếu thứ nhất là 5.690.000 đồng, số tiền sử dụng để đánh bạc tại chiếu thứ hai là 7.000.000 đồng.

Tại Bản Cáo trạng số 87/CT-VKS- CM ngày 09/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố:

- Trần Văn M về tội “ Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm a, b, d khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự.

- Đỗ Thanh T3, Đỗ Xuân L, Trịnh Đình T6, Nguyễn Trọng N2, Tô Văn M2, Nguyễn Bá C1, Nguyễn Trọng H1, Đỗ Công T về tội “ Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ diễn biến thực hiện hành vi đánh bạc và sử dụng số tiền vào đánh bạc như nội dung Cáo trạng đã nêu. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Trần Văn M về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm a, b, d khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự. Đỗ Thanh T3, Đỗ Xuân L, Trịnh Đình T6, Nguyễn Trọng N2, Tô Văn M2, Nguyễn Bá C1, Nguyễn Trọng H1 và Đỗ Công T về tội “ Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Áp dụng điểm a, b, d khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS đề nghị tuyên phạt bị cáo Trần Văn M từ 18 đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm h khoản 2 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS đề nghị tuyên phạt bị cáo Đỗ Công T từ 9 đến 12 tháng tù (thời hạn tù tính từ ngày 23/3/2024).

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 38 BLHS đề nghị tuyên phạt bị cáo Đỗ Thanh T3 từ 9 đến 12 tháng tù (thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án).

Áp dụng khoản 1 Điều 321; i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS đề nghị tuyên phạt bị cáo: Nguyễn Bá Ca từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 (áp dụng đối với T6, H1) Điều 51, Điều 65 BLHS đề nghị tuyên phạt các bị cáo Trịnh Đình T6, Đỗ Xuân

L, Nguyễn Trọng N2, Nguyễn Trọng H1, Tô Văn M2 mỗi bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.

Hình phạt bổ sung: Không đề nghị.

Đề nghị Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS

+ Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 12.690.000 đồng (Mười hai triệu sáu trăm chín mươi nghìn đồng).

+ Tịch thu tiêu hủy: 04 (bốn) bộ bài chắn, mỗi bộ A quân bài; 02 (hai) đĩa men sứ; 02 (hai) khay nhựa; 02 (hai) chiếu cói do không còn giá trị sử dụng.

+ Tịch thu sung công: 01 (một) đầu thu camera nhãn hiệu Ahua; 04 (bốn) mắt camera nhãn hiệu Ahua; 01 (một) ti vi S1, kích thước (120x65)cm, mã sản phẩm UA49M55AKXXV, phiên bản FA01, Mẫu sản phẩm UA49M5500AK, kiểu sản phẩm UA49M5500.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện C, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung:

[2.1] Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, thấy phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 23/03/2024, Trần Văn M đã dùng nhà của mình ở thôn G, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội để tổ chức cho 2 chiếu bạc sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức “Đánh chắn”. Chiếu bạc thứ nhất gồm: Tô Văn M2, Nguyễn Bá C1, Nguyễn Trọng H1 và Đỗ Công T, sử dụng số tiền vào việc đánh bạc là 5.690.000 đồng; Chiếu bạc thứ hai gồm: Đỗ Thanh T3, Đỗ Xuân L, Trịnh Đình T6 và Nguyễn Trọng N2, sử dụng số tiền vào việc đánh bạc là 7.000.000 đồng. Ngoài ra để cảnh giới cho các đối tượng đánh bạc, tránh việc phát hiện của lực lượng công an, M đã lắp đặt camera, ti vi, cung cấp 04 bộ bài chắn, 02 đĩa men sứ và 02 chiếu để các bị cáo đánh bạc nhằm thu lời bất chính với số tiền là: 1.020.000 đồng. Các bị cáo đánh bạc đến 16 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an huyện C phối hợp với Công an xã T phát hiện bắt quả tang.

Hành vi dùng nhà ở của mình tổ chức cho 02 chiếu bạc, cung cấp dụng cụ đánh bạc, lắp đặt camera, là người chia bài và trực tiếp canh gác để cho các bị cáo đánh bạc nhằm thu lời bất chính 1.020.000 đồng của Trần Văn M đã phạm tội Tổ chức đánh bạc được quy định tại điểm a, b, d khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự.

Tô Văn M2, Nguyễn Bá C1, Nguyễn Trọng H1 và Đỗ Công T đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức chắn được thua bằng tiền với số tiền sử dụng đánh bạc là 5.690.000 đồng; Đỗ Thanh T3, Đỗ Xuân L, Trịnh Đình T6 và Nguyễn Trọng N2 đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức chắn được thua bằng tiền với số tiền sử dụng đánh bạc là 7.000.000 đồng. Hành vi trên của các bị cáo đã phạm tội Đánh bạc được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố Trần Văn M về tội Tổ chức đánh bạc theo quy định tại điểm a, b, d khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự. Đỗ Thanh T3, Đỗ Xuân L, Trịnh Đình T6, Nguyễn Trọng N2, Tô Văn M2, Nguyễn Bá C1, Nguyễn Trọng H1 và Đỗ Công T về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2.2] Hành vi Tổ chức đánh bạc, đánh bạc của các bị cáo gây mất trật tự trị an xã hội, là nguyên nhân gây ra những tội phạm khác, gây ra những hệ lụy cho xã hội; cả 9 bị cáo này đều có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét vai trò, mức độ tham gia phạm tội, cũng như nhân thân của từng bị cáo như sau:

- Đối với Trần Văn M: Là chủ nhà, lắp đặt 04 mắt camera, tivi, trải chiếu, chuẩn bị bộ bài, đĩa men, khay nhựa làm dụng cụ đánh bạc, chia bài cho hai chiếu bạc, thu lợi bất chính với số tiền là 1.020.000 đồng nên giữ vai trò chính trong vụ án nên phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc mới có tác dụng, giáo dục, răn đe, phòng ngừa. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; phạm tội lần đầu, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, số tiền thu lời không lớn đã bị thu giữ ngay, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, vợ bị cáo sức khỏe yếu, con nhỏ đang trong độ tuổi đi học, bị cáo có đơn trình bày hoàn cảnh có xác nhận của chính quyền địa phương quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ phạm tội cùng nhiều tình tiết giảm nhẹ, xét bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội với thời gian thử thách nhất định cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa.

- Bị cáo Đỗ Công T tham gia đánh bạc với số tiền là 1.200.000 đồng. Bị cáo giữ vai trò thứ hai trong vụ án sau M. Ngày 13/5/2023, T mới chấp hành xong hình

phạt của bản án số 67/HSST ngày 16/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ về tội Mua bán trái phép chất ma túy nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm, là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Đối với T phải áp dụng hình phạt tù cách ly với xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng, giáo dục, răn đe, phòng ngừa. Bị cáo T được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Đối với các bị cáo Đỗ Thanh T3 sử dụng 1.600.000 đồng đánh bạc, bị cáo có nhân thân xấu đã bị xét xử năm 2009 và năm 2012 đều về tội Đánh bạc nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn vi phạm pháp luật, điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật, do vậy phải có mức hình phạt tù nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng cải tạo, giáo dục, răn đe. Vai trò, mức độ phạm tội của bị cáo và bị cáo Thế là ngang nhau nên mức hình phạt bằng nhau. Bị cáo T3 được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, nuôi bố mẹ già trên 90 tuổi, con nhỏ đang trong độ tuổi đi học, bị cáo là lao động chính trong gia đình có xác nhận của chính quyền địa phương về hoàn cảnh gia đình được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Đối với các bị cáo Nguyễn Bá C1, Trịnh Đình T6, Đỗ Xuân L, Nguyễn Trọng N2, Nguyễn Trọng H1, Tô Văn M2: Các bị cáo tham gia đánh bạc với số tiền không lớn; số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc tương đương nhau nên vai trò của các bị cáo là ngang nhau; bị cáo C1 có tiền sự năm 2012 đã xóa nên tính đến nay thời gian đã lâu nên được coi là có nhân thân tốt. Mức hình phạt dành cho Ca cao hơn các bị cáo còn lại. Cả 6 bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; các bị cáo C1, T6 có đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn do vợ ốm đau, bị cáo là lao động chính được chính quyền địa phương xác nhận; bị cáo M2 nộp tài liệu vợ bị đau ốm thường xuyên đi viện điều trị; bị cáo H1 có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba, Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhì, tặng nhiều Giấy khen là người có công với cách mạng, bị cáo cũng được tặng Giấy khen trong quá trình công tác tại địa phương quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét thấy các bị cáo Nguyễn Bá C1, Trịnh Đình T6, Đỗ Xuân L, Nguyễn Trọng N2, Nguyễn Trọng H1, Tô Văn M2 đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; đều có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không cần cách ly các bị cáo với xã hội, mà áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho các bị cáo được miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện là phù hợp, tạo điều kiện cho các bị cáo tự cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Do cả 9 bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 322, khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự.

[2.3] Về vật chứng đã thu giữ:

- 04 (bốn) bộ bài chắn, mỗi bộ A quân bài; 02 (hai) đĩa men sứ; 02 (hai) khay nhựa; 02 (hai) chiếu cói: được sử dụng vào việc đánh bạc, không còn giá trị sử dụng nên áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ.

- Số tiền thu giữ là 12.690.000 đồng là số tiền sử dụng vào việc đánh bạc nên áp dụng điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

- 01 (một) đầu thu camera nhãn hiệu Ahua cũ đã qua sử dụng; 04 (bốn) mắt camera nhãn hiệu Ahua cũ đã qua sử dụng; 01 (một) ti vi S1, kích thước (120x65)cm, mã sản phẩm UA49M55AKXXV, phiên bản FA01, mẫu sản phẩm UA49M5500AK, kiểu sản phẩm UA49M5500 đều không kiểm tra tình trạng chất lượng bên trong là phương tiện dùng để đánh bạc nên tịch thu nộp Ngân sách nhà nước.

[2.4] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố:
    • Bị cáo Trần Văn M phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
    • Các bị cáo Đỗ Công T, Đỗ Thanh T3, Nguyễn Bá C1, Trịnh Đình T6, Đỗ Xuân L, Nguyễn Trọng N2, Nguyễn Trọng H1, Tô Văn M2 phạm tội “Đánh bạc”.
  2. Áp dụng điểm a,b,d khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt:

    Trần Văn M: 18 (mười tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

  3. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt:

    Đỗ Công T: 10 (mười) tháng tù, Thời hạn tù tính từ ngày 23/3/2024.

  4. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt:

    Đỗ Thanh T3: 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

  5. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1 và khoản 2 (đối với C1, T6, H1, M2) Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt:

    Nguyễn Bá C1: 10 (mười) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    - Trịnh Đình T6: 08 (tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

  1. - Đỗ Xuân L: 08 (tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    - Nguyễn Trọng N2: 08 (tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    - Nguyễn Trọng H1: 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    - Tô Văn M2: 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Nguyễn Bá C1, Trịnh Đình T6, Đỗ Xuân L, Nguyễn Trọng N2, Nguyễn Trọng H1 cho UBND xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Tô Văn M2 cho UBND xã Đ, huyện C, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp những người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.

  1. Áp dụng: khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    6.1. Tịch thu tiêu hủy:

    - 04 (bốn) bộ bài chắn, mỗi bộ A quân bài; 02 (hai) đĩa men sứ; 02 (hai) khay nhựa; 02 (hai) chiếu cói.

    6.2. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:

    - Số tiền thu giữ là 12.690.000 đồng (Mười hai triệu sáu trăm chín mươi nghìn đồng);

    - 01 (một) đầu thu camera nhãn hiệu Ahua cũ đã qua sử dụng; 04 (bốn) mắt camera nhãn hiệu Ahua cũ đã qua sử dụng; 01 (một) ti vi S1, kích thước (120x65)cm, mã sản phẩm UA49M55AKXXV, phiên bản FA01, mẫu sản phẩm UA49M5500AK, kiểu sản phẩm UA49M5500.

    (Toàn bộ số vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ, tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/7/2024. Toàn bộ số tiền trên hiện đang tạm giữ tại tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ tại K huyện C theo Ủy nhiệm chi vào tài khoản số 3949.0.1052753.00000 ngày 24/7/2024).

  2. Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  1. Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • TAND Thành phố Hà Nội;
  • VKSND huyện Chương Mỹ;
  • Công an huyện Chương Mỹ;
  • CC THA dân sự huyện Chương Mỹ;
  • Sở Tư pháp Thành phố Hà Nội;
  • Các bị cáo;
  • UBND nơi các bị cáo cư trú;
  • Lưu: Hồ sơ, VT.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Hiền

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 111/2024/HSST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - TP. HÀ NỘI về tổ chức đánh bạc và đánh bạc

  • Số bản án: 111/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - TP. HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger