|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 111/2024/HS-ST Ngày: 04-09-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Văn Tuyến.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Thiện.
Bà Nguyễn Minh Hằng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Minh Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hải An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 107/2024/TLST- HS, ngày 26 tháng 07 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 08 năm 2024 đối với bị cáo:
Dương Đức T, sinh ngày 06 tháng 03 năm 1983 tại Hà Nam; ĐKHKTT và chỗ ở: Số A Ngõ E L, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Quang K và bà Đặng Thị S; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 05/05/2024 đến ngày 08/05/2024 chuyển tạm giam. Có mặt.
- Người chứng kiến:
- Anh Vũ Thanh N, vắng mặt.
- Anh Đàm Trọng N1, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20h30' ngày 04/5/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy, Dương Đức T điều khiển xe đạp mini màu đỏ đến khu vực đường T, N, Hải Phòng gặp một
người đàn ông (không xác định được lai lịch, địa chỉ) hỏi mua 01 gói ma túy "đá" với giá 300.000 đồng. Người đàn ông nhận tiền của T và đưa cho T 01 túi nilon kích thước 2x2cm bên trong chứa tinh thể màu trắng. T cầm gói ma túy trong lòng bàn tay phải và điều khiển xe đạp đến khu vực phường Đ, H, Hải Phòng để tìm nơi sử dụng. Khoảng 21h00' cùng ngày, T đến khu vực trước cửa nhà số A N, TDP B, Đ, H, Hải Phòng thì bị tổ tuần tra Công an phường C phối hợp với Công an phường Đ phát hiện, kiểm tra, T đã tự nguyện giao nộp 01 túi nilon kích thước 2x2cm bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma túy "đá" của T mua về sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tạm giữ 01 xe đạp mini màu đỏ và đưa Dương Đức T cùng vật chứng về trụ sở Công an phường Đ lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Kết quả xét nghiệm nhanh mẫu nước tiểu của Dương Đức T ngày 05/05/2024: Xác định Dương Đức T dương tính với chất ma túy Methamphetamine.
Tại Kết luận giám định số 537/KL-KTHS ngày 07/05/2024 của Phòng K1 Công an T2 kết luận đối với tinh thể màu trắng đã thu giữ của Dương Đức T: “là ma túy, có khối lượng 0,35 gam, loại Methamphetamine”.
Tại Cơ quan điều tra, Dương Đức T khai nhận như nội dung trên. Ngoài ra, Dương Đức T khai: Khoảng 19h00' ngày 02/5/2024, T đã đến khu vực đường T, Ngô Q, Hải Phòng mua ma túy "đá" của một người đàn ông không quen biết rồi về khu vực cầu vượt Đ, Đ, H, Hải Phòng sử dụng một mình hết nên khi xét nghiệm đã dương tính với chất ma túy Methamphetamine.
Tại Cáo trạng số 110/CT-VKS ngày 25 tháng 07 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An đã truy tố bị cáo Dương Đức T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Dương Đức T ngày 02/5/2024 tại khu vực cầu vượt Đ, Đ, H, Hải Phòng, Cơ quan điều tra chuyển xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP.
Đối với hai người đàn ông bán ma túy cho T tại khu vực đường T, N, Hải Phòng hiện chưa xác định được lai lịch, địa chỉ nên chưa đủ căn cứ lập hồ sơ xử lý.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt:
Bị cáo Dương Đức T từ 17 đến 21 tháng tù, về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/05/2024.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
2
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư niêm phong lại số 537MT/ PC09- Công an T2 bên trong chứa toàn bộ khối lượng ma túy còn lại sau giám định.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, báo cáo bắt giữ, bản kết luận giám định, nội dung bản cáo trạng, tang vật thu giữ cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 21h00' ngày 04/5/2024, tại khu vực trước cửa nhà số A N, TDP B, Đ, H, Hải Phòng, Dương Đức T có hành vi cất giữ trái phép 0,35 gam ma túy loại Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Dương Đức T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý sử dụng các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây ra nhiều hệ lụy cho xã hội, làm suy thoái đạo đức lối sống và là nguyên nhân làm phát sinh những tội phạm khác gây mất trật tự xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Qua đó đã thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo, hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm tương xứng đối với hành vi phạm tội của mình.
[4] Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.
[5] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
3
Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có bố đẻ được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt: Sau khi xem xét, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về chất ma túy, làm suy thoái đạo đức lối sống và là nguyên nhân làm phát sinh những tội phạm khác gây mất trật tự xã hội. Do vậy cần phải xử lý nghiêm, bắt bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian, đủ để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Dương Đức T ngày 02/5/2024 tại khu vực cầu vượt Đ, Đ, H, Hải Phòng, Cơ quan điều tra chuyển xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP.
Đối với hai người đàn ông bán ma túy cho T tại khu vực đường T, N, Hải Phòng hiện chưa xác định được lai lịch, địa chỉ nên chưa đủ căn cứ lập hồ sơ xử lý.
[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, chưa xác minh được bị cáo có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng: Số ma tuý còn lại sau giám định xét là vật cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với chiếc xe đạp mini màu đỏ: Kết quả xác minh xác định chủ sở hữu là chị Dương Thị Anh T1 - sinh năm 1975 (ĐKHKTT: Số 354 Chợ Hàng, Dư H, L, Hải Phòng) là chị gái của Dương Đức T. Chị T1 không biết việc T sử dụng chiếc xe để đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 1739 ngày 12/7/2024, trả lại chiếc xe này cho chị Dương Thị Anh T1 nên Tòa án không xem xét.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghỉ nghị án, bị cáo trình bày nhận thức rõ hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm và rất ăn năn hối cải nên mong muốn được sự khoan hồng của pháp luật, được giảm nhẹ hình phạt.
Vì các lẽ trên;
4
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Dương Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Xử phạt: Bị cáo Dương Đức T 17 (mười bẩy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 05/05/2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư niêm phong lại số 537MT/ PC09- Công an T2 bên trong chứa toàn bộ khối lượng ma túy còn lại sau giám định (theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận hải An, thành phố Hải Phòng).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Dương Đức T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.
Vụ án xử công khai sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Văn Tuyến |
5
6
Bản án số 111/2024/HS-ST ngày 04/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 111/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ chất ma túy Dương Đức Thiện
