Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ QUY NHƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc.

Bản án số: 111/2024/HS-ST

Ngày: 03-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN-TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Diễm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Thọ và ông Nguyễn Cảnh Liêm

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Mỹ Trinh - Thư ký của Toà án nhân dân TP. Quy Nhơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 95/2024/TLST-HS ngày 17/4/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2024/QĐXXST-HS ngày 02/5/2024 và theo Quyết định hoãn phiên toà số 92/2024/HSST-QĐ ngày 17/5/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đinh Văn Q, sinh ngày: 09/9/1989 tại huyện Q, tỉnh Quảng Nam; Nơi cư trú: Thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam; Nghề nghiệp: Thông dịch viên tiếng Hàn Quốc; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Đinh Văn L, sinh năm 1968 và bà: Nguyễn Thị Á, sinh năm 1966; Vợ: Nông Thị N, sinh năm 1991, có 02 người con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/8/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

  1. Ông Choi Joeng Y, sinh năm 1956 “Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”.

    Trú tại: Phòng A, tầng G, chung cư H, phường H, TP ., tỉnh Bình Định.

  2. Anh Vũ Trí T, sinh năm: 1992 “Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”.

    Địa chỉ: Thôn F, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

  3. Ông Lê Đình Q1, sinh năm: 1968 “Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”.

    Địa chỉ: Khu phố L, thị trấn D, huyện T, tỉnh Bình Định.

  4. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm: 1974 “Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”.

    Địa chỉ: Tổ B, khu phố H, phường B, TP ., tỉnh Bình Định.

  5. Chị Vũ Thị Linh C, sinh năm: 1998 “Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”.

    Địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Bình Định.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Công ty TNHH MTV J1

Người đại diện theo pháp luật: Ông Choi Joeng Y1, sinh năm 1956 “Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”.

Trú tại: Phòng A, tầng G, chung cư H, phường H, TP ., tỉnh Bình Định.

- Người phiên dịch cho ông Choi Joeng Y:

Chị Phan Thị Như P, sinh năm: 1989 “Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt”.

Địa chỉ: 2 đường C, phu phố G, phường H, TP ., TP ..

- Người làm chứng:

  1. Chị Võ Thị Thúy Q2, sinh năm: 1992 “Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt”.

    Địa chỉ: A V, phường T, TP., Bình Định.

  2. Bà Nguyễn Thị Ngọc A, sinh năm: 1968 “Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt”.

    Địa chỉ: 3 H, TP ., tỉnh Bình Định.

  3. Anh Đoàn Văn H1, sinh năm: 1973 “Vắng mặt”.

    Địa chỉ: Tổ B, khu phố C, phường T, TP ., Bình Định.

  4. Ông Đinh Văn L, sinh năm: 1968 “vắng mặt”

    Địa chỉ: Thôn X, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 12 năm 2022, thông qua mạng xã hội Facebook, Đinh Văn Q thấy Công ty TNHH J1 địa chỉ tổ I, khu phố G, P. B, TP ., tỉnh Bình Định cần tuyển người thông dịch tiếng Hàn Quốc làm trợ lý cho giám đốc Choi Jeong Yong nên đã liên hệ xin việc. Đến ngày 29/12/2022, Q được nhận vào làm thông dịch viên, trợ lý cho ông Choi Jeong Y2.

Trong quá trình làm việc, lợi dụng vào lòng tin ông Choi Jeong Y2, nhân viên kế toán Vũ Thị Linh C và dựa vào các mối quan hệ của các đối tác Công ty TNHH J1, Q nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của Công ty TNHH J1 và những người khác. Từ ngày 07/01/2022 đến ngày 01/02/2023, Q dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản 05 lần, cụ thể như sau:

Vụ 1: Ngày 07/01/2023, Đinh Văn Q nói dối với Vũ Thị Linh C (là nhân viên kế toán của công ty TNHH J1) đưa số tiền 35.000.000 đồng để Q và giám đốc C2 đi tiếp khách theo yêu cầu của giám đốc. Chi đưa có Q 01 phiếu chi tiền để ông Choi Jeong Y2 ký thì mới chi tiền nhưng Q bảo cần tiền gấp và giám đốc đang bận nên Q sẽ đưa ký sau. Chi tin tưởng lời Q nói nên đưa cho Q số tiền 35.000.000 đồng gồm 15.000.000 đồng tiền mặt và 20.000.000 đồng tiền thông qua chuyển khoản. Có được tiền, Q đem đi trả nợ hết.

Vụ 2: Ngày 13/01/2023, Q cần tiền để trả nợ nên nhắn tin với C nói dối là Giám đốc Choi Jeong Y2 yêu cầu chuyển tiền gấp để quy đổi ngoại tệ và bảo C chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng V số: [...] của Q liên tiếp 05 lần với tổng số tiền là 212.500.000 đồng. Trong đó, lần thứ nhất vào lúc 17 giờ 46 phút ngày 13/01/2023 với số tiền 30.000.000 đồng, lần 2 lúc 18 giờ 11 phút cùng ngày với số tiền 40.000.000 đồng, lần 3 lúc 19 giờ 21 phút cùng ngày với số tiền 50.000.000 đồng, lần 4 lúc 19 giờ 42 phút cùng ngày với số tiền 50.000.000 đồng, lần 5 lúc 19 phút 59 phút với số tiền 42.500.000 đồng. Có được số tiền 212.500.000 đồng, Q dùng trả nợ hết. Sáng ngày 14/01/2023, C đưa cho Q 01 tờ “CHI TIỀN SẾP” với số tiền 212.500.000 đồng để Q đưa cho giám đốc Choi J ký tên xác nhận. Tuy nhiên, Q không đưa cho ông C1 Jeong Yong ký mà giả chữ ký của ông Choi Jeong Y2 rồi đưa lại cho C.

Vụ 3 +4: Vào ngày 29/01/2023, Q tiếp tục nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của ông Vũ Trí T và ông Lê Đình Q1 (cùng là đối tác làm ăn với Công ty TNHH J1) nên đã liên hệ với ông T và ông Q1. Q nói dối với ông T là Công ty TNHH J1 đang cần số tiền 42.000.000 đồng để trả tiền hàng nên mượn ông T số tiền trên và sẽ sớm chuyển lại. Ông T tin tưởng nên chuyển vào tài khoản ngân hàng V của Q số tiền 42.000.000 đồng. Sau đó, Q gọi điện thoại cho ông Q1 nói dối là “Ông C1 đang đi công tác ở TP . nhưng đang thiếu tiền để nhập đá nên cần mượn số tiền 20.000.000 đồng để thanh toán và ông C1 sẽ sớm trả lại”. Ông Q1 bảo không dùng Smart Banking nên không thể chuyển được nên nhờ người khác sẽ chuyển khoản cho Q số tiền trên. Đến sáng ngày 30/01/2023, Quốc gọi nhắc lại ông Q1 thì ông Q1 đưa tiền và nhờ em họ là Nguyễn Thị Ngọc A chuyển số tiền 20.000.00 đồng vào tài khoản ngân hàng V cho Q. Có được tiền từ ông T và ông Q1, Q dùng trả nợ hết.

Vụ 5: Ngày 01/02/2023, khi Q và ông Choi Jeong Y2 đang công tác ở Hà Nội nhưng số tiền ông Choi Jeong Y2 đưa thì Q đã tiêu xài hết nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của bà Nguyễn Thị H (là đối tác của Công ty TNHH J1). Q liên hệ với bà H, nói dối: “Ông C1 đang đi công tác mà thiếu tiền mua vé máy bay về nên cần mượn 6.000.000 đồng sẽ sớm trả lại”. Lúc này, bà H tin tưởng nên chuyển vào tài khoản ngân hàng V của Q số tiền 6.000.000 đồng. Có được tiền, Q sử dụng mua vé máy bay và tiêu xài cá nhân hết.

Ngoài ra, lợi dụng vào việc ông Choi J Yong tin tưởng nhiều lần đưa tiền cho Q để lo chi phí trong công việc, Q đã chiếm đoạt số tiền này. Cụ thể như sau:

Vụ 1: Ngày 27/01/2023, tại phòng làm việc của ông Choi Jeong Y2, ông Y2 đưa cho Q số tiền 100.000.000 đồng nhờ Q chuyển giúp số tiền này cho ông Vũ Trí T để thanh toán tiền theo Hợp đồng mua đá. Sau khi nhận tiền, Q chỉ chuyển cho ông T 80.000.000 đồng còn số tiền 20.000.000 đồng Q chiếm đoạt và dùng để trả nợ cá nhân.

Vụ 2: Ngày 29/01/2023, tại chung cư H, ông Choi Jeong Y2 đưa cho Q 70.000.000 đồng nhờ Q chuyển cho Vũ Thị Linh C số tiền 40.000.000 đồng để lo việc công ty, còn số tiền 30.000.000 đồng ông Y2 giao Q giữ để chi phí cho ông Y2 đi công tác. Sau khi nhận tiền từ ông Y2, Q chiếm đoạt số tiền 40.000.000 đồng, không đưa lại cho C. Đối với số tiền 30.000.000 đồng, Q chỉ sử dụng 12.000.000 đồng lo chi phí công tác ở Đà Nẵng và Hà Nội. Còn lại số tiền 18.000.000 đồng Q chiếm đoạt và trả nợ, tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 01/02/2023, Q cùng ông Choi Jeong Y2 đi công tác về lại công ty. Lúc này, Quốc nghĩ ông Choi Jeong Y2 sẽ phát hiện hành vi chiếm đoạt của mình sẽ báo Công an nên ngày 02/02/2023, Q bỏ trốn vào TP ., tỉnh Khánh Hòa. Sau khi phát hiện bị Q chiếm đoạt tiền, ông Choi Jeong Y2 đã nhiều lần gọi điện, nhắn tin cho Q nói rằng đã biết sự việc Q chiếm đoạt tiền nhưng Q không trả lời. Ngày 04/02/2023, sợ ông Choi Jeong Y2 báo Công an nên Q đã điện thoại xin lỗi ông C1 Jeong Yong việc Q đã chiếm đoạt tài sản như nêu trên và về gặp ông Y2 tại TP .. Đến ngày 05/02/2023, ông Choi Jeong Y2 đến Công an Phường B trình báo sự việc.

Ngày 08/5/2023, Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Chữ ký “MR.CHOI” với mục “GIÁM ĐỐC” trên mẫu cần giám định so với chữ ký của C2 không cùng một người ký ra.

Về dân sự: Ông Choi Jeong Y2 đã trả cho ông Vũ Trí T 42.000.000 đồng, trả cho ông Lê Đình Q1 20.000.000 đồng, trả cho chị Nguyễn Thị H 6.000.000 đồng. Đinh Văn Q và gia đình đã bồi thường cho ông C1 Jeong Yong 270.000.000 đồng. Ông Choi Jeong Y2, ông T, ông Q1 và bà H không yêu cầu bồi thường gì thêm.

- Tại bản cáo trạng số 37/CT-VKSQN ngày 23/01/2024 Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn truy tố bị cáo Đinh Văn Q về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật hình sự và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 175 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Đinh Văn Q thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 07 năm tù đến 08 năm tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 175, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 03 năm tù đến 04 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 55 của Bộ luật hình sự đề nghị HĐXX tổng hợp với hình phạt của 02 tội đối với bị cáo.

Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Đinh Văn Q là người có đầy đủ sức khỏe, năng lực để nhận thức và điều khiển hành vi của mình nên phải biết tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đều được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh nhưng do cần tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân nên sau khi nhận được tiền từ ông Choi Joeng Y đưa để nhờ bị cáo trả cho ông Q1, giao cho chị C và sử dụng vào công việc, bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt, cụ thể: Vào ngày 27/01/2023 sau khi ông Choi J Yong đưa cho bị cáo 100.000.000 đồng nhờ bị cáo chuyển khoản để thanh toán tiền hợp đồng cho ông Lê Đình Q1, bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt 01 phần số tiền này nên chỉ chuyển cho ông Q1 80.000.000 đồng, còn lại 20.000.000 đồng bị cáo chiếm đoạt. Đến ngày 29/01/2023 ông Choi Jeong Y2 tiếp tục đưa cho bị cáo 70.000.000 đồng để nhờ bị cáo đưa lại cho chị Vũ Thị Linh C là kế toán của Công ty TNHH MTV J1 40.000.000 đồng, còn lại 30.000.000 đồng thì sử dụng vào việc đi công tác thì bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt nên không đưa cho chị C số tiền 40.000.000 đồng, còn 30.000.000 đồng sau khi đi công tác với ông C1 về, còn dư lại 18.000.000 đồng, bị cáo không trả lại cho ông C1 mà chiếm đoạt để trả nợ, tiêu xài hết.

Ngoài ra, từ ngày 29/01/2023 đến ngày 01/02/2023, do cần tiền trả nợ, bị cáo Đinh Văn Q nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của các bị hại, biết chị C (kế toán của Công ty J1) là người đang trực tiếp giữ tiền của Công ty J1 nên đã dùng thủ đoạn gian dối như nói dối với chị Vũ Thị Linh C là ông Choi Jeong Y2 yêu cầu chị C chi tiền để làm công việc, nói dối với ông Lê Đình Q1, anh Vũ Trí T, chị Nguyễn Thị H là những đối tác làm ăn với Công ty J1 rằng ông C1 Jeong Yong cần tiền gấp nên ông C1 mượn tiền của họ để sử dụng. Do bị cáo là thông dịch viên và là trợ lý cho ông C1 Jeong Yong nên các bị hại C, Q1, T, H đã tin tưởng, vì vậy vào các ngày 07 và 13/01/2023 chị C đã 02 lần giao tiền, chuyển khoản cho bị cáo Q với tổng số tiền là 247.500.000 đồng, ngày 29/01/2023 anh Vũ Trí T chuyển vào tài khoản của bị cáo 42.000.000 đồng, ngày 30/01/2023 ông Lê Đình Q1 nhờ người chuyển vào tài khoản của bị cáo 20.000.000 đồng, ngày 01/02/2023 chị Nguyễn Thị H chuyển vào tài khoản của bị cáo 6.000.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt tiền của các bị hại bị cáo sử dụng trả nợ, tiêu xài hết, sau đó bỏ trốn vào TP ., tỉnh Khánh Hòa.

Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại Choi Joeng Yong sau khi nhận được tiền từ ông C1 để nhờ bị cáo trả nợ, giao cho người khác và sử dụng vào công việc là 78.000.000 đồng, tổng giá trị tài sản mà bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt từ các bị hại Vũ Thị Linh C, Lê Đình Q1, Vũ Trí T, Nguyễn Thị H là 315.500.000 đồng, do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn truy tố bị cáo Đinh Văn Q về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” theo điểm c khoản 2 Điều 175 của Bộ luật hình sự và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng” theo điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội.

[3] Hành vi do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an ở địa phương nên phải xử phạt nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo thì thấy rằng:

  • 4.1 Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
  • 4.2 Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 02 lần, mỗi lần trị giá tài sản trên 4.000.000 đồng; Bị cáo lừa đảo chiếm đoạt tài sản 05 lần, mỗi lần trị giá tài sản trên 2.000.000 đồng nên đã phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
  • 4.3 Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, quá trình điều tra gia đình bị cáo đã bồi thường cho ông C1 Jeong Yong 270.000.000 đồng; các bị hại Choi J, Lê Đình Q1, Nguyễn Thị H xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo an tâm cải tạo tốt.

Bị cáo phạm nhiều tội nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt của nhiều tội đối với bị cáo.

[5] Về bồi thường thiệt hại: Bị cáo chiếm đoạt của ông C1 Jeong Yong 78.000.000 đồng; chiếm đoạt của chị Vũ Thị Linh C 247.500.000 đồng, chiếm đoạt của ông Lê Đình Q1 20.000.000 đồng, chiếm đoạt của anh Vũ Trí T 42.000.000 đồng, chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị H 6.000.000 đồng.

Ông Choi Jeong Y2 đã trả cho ông Lê Đình Q1 20.000.000 đồng, trả cho anh Vũ Trí T 42.000.000 đồng, trả cho chị Nguyễn Thị H 6.000.000 đồng. Ông Q1, anh T, chị H không yêu cầu bồi thường gì nên không xem xét.

Chị Vũ Thị Linh C dùng tiền của Công ty TNHH MTV J2 giao cho bị cáo. Gia đình bị cáo đã bồi thường cho ông Choi Joeng Y là bị hại đồng thời là người đại diện hợp pháp của Công ty J2 với số tiền tổng cộng 270.000.000 đồng. Ông Choi Jeong Y2 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Bị cáo bị kết án về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 175, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 55 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Văn Q phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đinh Văn Q 07 (bảy) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 03 (ba) năm tù về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt của nhiều tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 10 (mười) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 29/8/2023.
  3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

    Buộc bị cáo Đinh Văn Q phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND TP. Quy Nhơn;
  • - Chi cục THADS Tp. Quy Nhơn;
  • - CQ CSĐT CA Tp. Quy Nhơn;
  • - CQ THAHS CA Tp. Quy Nhơn;
  • - Nhà tạm giữ H. Phù Cát, TP. Quy Nhơn;
  • - Đương sự;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

Phạm Thị Hồng Diễm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 111/2024/HS-ST ngày 03/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 111/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổng giá trị tài sản bị cáo Q chiếm đoạt của bị hại C sau khi nhận được tiền từ ông C để nhờ bị cáo trả nợ, giao cho người khác và sử dụng vào công việc là 78.000.000 đồng, tổng giá trị tài sản mà bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt từ các bị hại Vũ Thị Linh C1, Lê Đình Q, Vũ Trí T, Nguyễn Thị H là 315.500.000 đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger