Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC HÒA

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2024/DS-ST

Ngày: 03 - 6 - 2024

V/v tranh chấp

“Hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Bình An.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Chí Lin
  2. Bà Trần Thị Đổi

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huỳnh Như – là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Ngày 03 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 114/2024/TLST-DS ngày 15 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2024/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 82/2024/QĐST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị E, sinh năm 1964.

Địa chỉ: Ấp D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An

Người đại diện theo ủy quyền của bà E: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1970 – Giấy ủy quyền ngày 08/01/2024 (có mặt)

Địa chỉ: khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

- Bị đơn: Bà Bùi Thị Thanh T1, sinh năm 1978; ông Lê Văn S, sinh năm 1979 (bà T1 có mặt, ông S vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 04 tháng 01 năm 2024 và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn bà Đỗ Thị E do ông Nguyễn Văn T đại diện theo ủy quyền trình bày:

Do là chỗ quen biết, ngày 04/12/2021, bà Bùi Thị Thanh T1 và ông Lê Văn S vay bà số tiền 50.000.000 đồng, thời hạn thanh toán vào ngày 04/12/2022, không thỏa thuận lãi suất, việc cho vay có lập Giấy vay tiền do bà T1 ký tên.

Ngày 13/12/2021, bà Bùi Thị Thanh T1 và ông Lê Văn S tiếp tục vay bà số tiền 50.000.000 đồng, thời hạn thanh toán vào ngày 13/12/2022, không thỏa thuận lãi suất, việc cho vay có lập Giấy vay tiền do bà T1 ký tên.

Ngày 11/01/2022, bà Bùi Thị Thanh T1 và ông Lê Văn S tiếp tục vay bà số tiền 100.000.000 đồng, thời hạn thanh toán vào ngày 11/7/2022, không thỏa thuận lãi suất, việc cho vay có lập Giấy vay tiền do ông S ký tên.

Tuy nhiên đến nay, bà Bùi Thị Thanh T1 và ông Lê Văn S vẫn chưa thanh toán cho bà được số tiền vay nào dù đã hết thời hạn cho vay.

Do đó, bà khởi kiện yêu cầu bà Bùi Thị Thanh T1 và ông Lê Văn S liên đới trả cho bà tổng số tiền vay là 200.000.000 đồng, bà không yêu cầu lãi suất phát sinh.

Ngoài ra, không còn yêu cầu gì khác và không yêu cầu chủ thể khác có trách nhiệm liên đới.

Bị đơn bà Bùi Thị Thanh T1 trình bày: Bà thừa nhận ngày 04/12/2021, bà có vay của bà Đỗ Thị E số tiền 50.000.000 đồng do bà ký tên vào Giấy vay tiền; ngày 13/12/2021, bà tiếp tục vay của bà Đỗ Thị E số tiền 50.000.000 đồng do bà ký tên vào Giấy vay tiền; ngày 11/01/2022, chồng bà ông Lê Văn S có vay của bà Đỗ Thị E số tiền 100.000.000 đồng do chồng bà ký tên vào Giấy vay tiền; tổng số tiền vợ chồng bà đã vay của bà Đỗ Thị E là 200.000.000 đồng. Do làm ăn gặp khó khăn nên đến nay vợ chồng bà chưa thanh toán tiền cho bà Đỗ Thị E. Nay qua yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị E, bà đồng ý cùng ông S trả cho bà Đỗ Thị E tổng số tiền là 200.000.000 đồng vì tổng số tiền này vợ chồng bà mượn trong thời gian hôn nhân và hiện nay ông bà vẫn còn tồn tại hôn nhân hợp pháp. Do hoàn cảnh khó khăn, bà xin trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, các văn bản tố tụng cần thiết, đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và các thủ tục theo pháp luật quy định nhưng bị đơn ông Lê Văn S vẫn vắng mặt không có lý do, cũng không có bất cứ văn bản nào phản hồi ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ các kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Bà Đỗ Thị E khởi kiện yêu cầu ông Lê Văn S, bà Bùi Thị Thanh T1 trả tiền theo các Giấy nhận mượn tiền ngày 04/12/2021, 13/12/2021, 11/01/2022. Quan hệ tranh chấp là tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Lê Văn S, bà Bùi Thị Thanh T1 cư trú tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An và có mặt tại địa phương nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quyền khởi kiện và thời hiệu khởi kiện: Thấy rằng, các Giấy vay tiền ngày 04/12/2021, 13/12/2021, 11/01/2022 đều đã quá thời hạn thanh toán ghi trên các Giấy vay tiền; do đó, bà Đỗ Thị E có quyền khởi kiện yêu cầu ông Lê Văn S, bà Bùi Thị Thanh T1 thanh toán tiền vay theo Điều 469 Bộ luật Dân sự 2015. Ngày 08/01/2024, bà Đỗ Thị E nộp đơn khởi kiện vẫn còn trong thời hiệu khởi kiện theo Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015.

Tại phiên tòa, bị đơn ông Lê Văn S đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ vào khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2]. Về nội dung:

Bà E (do ông T đại diện) và bà T1 có lời trình bày thống nhất về việc ký các Giấy nhận mượn tiền ngày 04/12/2021, 13/12/2021 với tổng số tiền đã vay là 100.000.000 đồng nên đây được xem là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Giấy nhận mượn tiền ngày 11/01/2022 giữa bà Đỗ Thị E và ông Lê Văn S có chữ ký và ghi tên Lê Văn S. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng cần thiết cho ông S, ông S không có ý kiến phản hồi hay phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị E, không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ nào; trong khi, bà Đỗ Thị E xuất trình được chứng cứ chứng minh là Giấy vay tiền và có lời trình bày xác nhận của bà Bùi Thị Thanh T1 về việc ông S ký Giấy vay số tiền 100.000.000 đồng với bà E, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết là phù hợp Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Mặc dù các Giấy nhận mượn tiền ngày 04/12/2021, 13/12/2021, 11/01/2022 không có đầy đủ chữ ký của bà T1 và ông S nhưng giao dịch vay tiền được xác lập trong thời gian hôn nhân, bà T1 có lời trình xác nhận cả bà và ông S đều biết các khoản vay tiền của bà E với tổng số tiền 200.000.000 đồng đến nay chưa trả.

Từ các phân tích trên, xét yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị E về việc yêu cầu ông Lê Văn S, bà Bùi Thị Thanh T1 trả tổng số tiền vay 200.000.000 đồng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3]. Về lãi suất: Bà Đỗ Thị E không yêu cầu trả lãi suất phát sinh nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4]. Về án phí: Ông Lê Văn S, bà Bùi Thị Thanh T1 phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 186, 273, 227 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 463, 466, 469, 357, 468 Bộ luật Dân sự 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị E đối với ông Lê Văn S, bà Bùi Thị Thanh T1 về việc tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”.

Buộc ông Lê Văn S, bà Bùi Thị Thanh T1 có trách nhiệm liên đới trả cho bà Đỗ Thị E số tiền 200.000.000 đồng – Hai trăm triệu đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

2. Về án phí:

Ông Lê Văn S, bà Bùi Thị Thanh T1 phải liên đới chịu 10.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.

Bà Đỗ Thị E thuộc trường hợp được miễn tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm và tuyên án công khai, đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện Đức Hòa;
  • - Chi cục THADS huyện Đức Hòa;
  • - Lưu hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đỗ Bình An

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 111/2024/DS-ST ngày 03/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 111/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BÀ E TRANH CHẤP HĐ VAY BÀ T, ÔNG S
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger