|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 111/2024/HS-ST Ngày 02-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Thế Anh
Bà Bùi Thị Hà
ảng Phong - Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Ngọc Khanh - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Thơ - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 108/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024 với bị cáo:
Nguyễn Văn P, sinh ngày 05 tháng 02 năm 2003, tại Thái Bình; Nơi cư trú: Xóm A, thôn Q, xã Đ, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị R; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 04/3/2024 đến ngày 08/3/2024 áp dụng biện pháp ngăn cặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Văn N có thửa đất giáp ranh với gia đình ông Đỗ Khắc V, sinh năm 1973, ở thôn V, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng, N đã đề nghị ông V ký giáp ranh giấy tờ đất giữa thửa đất của N liền nhà ông V nhưng ông V không đồng ý do giữa hai thửa đất chưa xác định được chính xác mốc giới.
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 04/03/2022, N điều khiển xe ôtô biển kiểm soát 15A-788.46 chở Bùi Văn K (tên gọi khác là K1), Bùi Văn T1, sinh năm 1985, trú tại thôn Q, xã N, huyện A, thành phố Hải Phòng đến để đề nghị ông V phải ký giấy giáp ranh cho N. Đến nơi, ông V không có nhà, N gặp cụ Đỗ Khắc A, sinh năm 1940 (là bố đẻ ông V). N đề nghị gia đình cụ A ký giáp ranh để N sang được tên thửa đất của N nhưng cụ A không đồng ý. N đứng ở ngoài cổng nhà ông V chửi bới, thách thức, còn K và T1 đi vào trong nhà ông V. Khoảng 15 giờ 40 phút cùng ngày, ông V về nhà. Khi gặp ông V, N và K yêu cầu ông V ký giấy tờ giáp ranh cho N nhưng ông V vẫn không đồng ý. N liền điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 15A-788.46 đỗ giữa đường liên thôn trước cổng nhà ông V làm cản trở giao thông trong khu vực rồi tiếp tục đứng ở ngoài cổng chửi bới, thách thức, đe dọa ông V. Đến khoảng 15 giờ 55 phút, Mai Trung P1, sinh năm 1985, ở xóm D B, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình điều khiển xe ôtô biển kiểm soát 30E-924.89 chở Lê Hùng M; Nguyễn Việt T2 điều khiển xe ôtô biển kiểm soát 15A-412.56 chở Hoàng Thị Thu H (vợ K); Nguyễn Duy K2 điều khiển xe ôtô biển kiểm soát 15A-692.81 chở Nguyễn Văn P, Đoàn Minh H1 và Nguyễn Văn H2, sinh năm 2003, trú tại thôn P, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng, cùng là bạn bè xã hội với N đi đến nhà ông V. Tại đây, nhóm của N tiếp tục chửi bới, thách thức, gây sức ép để ông V ký giáp ranh thửa đất của N.
Khoảng 16 giờ 15 phút cùng ngày, anh Trần Minh Đ, sinh năm 1995, trú tại số A H, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng, gọi ông V là bố nuôi, thấy nhóm của N đến nhà ông V chửi bới đã điều khiển xe môtô biển kiểm soát 15B3-155.68 đến, khi thấy nhóm N đang chửi bới, thách thức ông V nên anh Đ yêu cầu nhóm N đi ra khu vực cổng nhà ông V. Lúc này, N chửi anh Đ, K và P dùng tay đánh vào sau đầu anh Đ. Bị đánh, anh Đ điều khiển xe môtô biển số 15B3-155.68 đến quán H5 ở cùng thôn lấy 01 rìu sắt dài khoảng 25cm, có lưỡi bản rộng khoảng 8cm, dài khoảng 5cm và 01 ống tuýp sắt dài khoảng 30cm, đường kính 02cm. Thấy anh Đ cầm theo hung khí đến định đánh nhau với nhóm N, anh Đặng Sỹ T3, sinh năm 1986 và ông Bá Xuân H3, sinh năm 1965, ở cùng thôn V đã can ngăn. Anh T3 giằng lấy ống tuýp sắt, ông H3 giằng rìu sắt của anh Đ rồi kéo anh Đ đi vào sân nhà bà Trần Thị H4, sinh năm 1964, ở thôn V. Lúc này, K giằng rìu sắt từ tay ông Bá Xuân H3, T2 cầm 01 gậy bóng chày màu đỏ lấy trên xe ôtô biển kiểm soát 15A-412.56 đuổi theo anh Đ. H1 cũng lấy 01 gậy đánh golf bằng sắt từ cốp xe ôtô biển kiểm soát 30E-924.89 đuổi theo anh Đ thì bị P giật lấy. Khi bị P giật gậy đánh golf, H1 chạy ra cổng nhà ông V bảo K2 đưa chìa khóa xe ô tô biển kiểm soát 15A-692.81 để H1 mở xe lấy gậy bóng chày, K2 biết H1 lấy gậy bóng chày để đánh nhau nhưng đã đưa chìa khóa xe ô tô cho H1. H1 mở xe ô tô lấy 01 gậy bóng chày màu vàng ở cánh cửa ghế lái xe ô tô của K2. Khương, N, T2, P, H1 cùng nhau cầm theo hung khí đuổi theo xông vào sân nhà bà H4 tìm đánh anh Đ. Anh T3, ông H3 và một số người dân can ngăn thì nhóm K dừng lại không đuổi đánh anh Đ nữa. Khương ném lại rìu sắt tại hiện trường, T2 cầm gậy bóng chày màu đỏ, H1 cầm gậy bóng chày bằng gỗ, P cầm gậy golf rồi lên xe bỏ đi. Quá trình bị đuổi đánh, anh Trần Minh Đ bị thương được anh Đặng Sĩ T4 đưa đến Bệnh viện Đ1 sơ cứu vết thương, anh Đ không xác định được người đánh, gây thương tích cho mình.
Sau khi sự việc xảy ra, ông Đỗ Khắc V đã có đơn trình báo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A đã tiến hành khám nghiệm hiện trường phát hiện tại sân nhà bà Trần Thị H4 có đám dấu vết màu nâu đỏ kích thước trong diện 1,5m x 1,7m; trên mặt đường liên thôn V có đám dấu vết màu nâu đỏ kích thước trong diện 2,6m x 2,5m. Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 chiếc chiếu mây màu vàng nâu, kích thước 1,8m x 1,15m, bên trên có một số dấu vết màu nâu đỏ; 02 USB lưu trữ hệ thống camera của gia đình ông Đỗ Khắc V và gia đình anh Trần Đình T5, sinh năm 1984, trú tại thôn V, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng.
Tại Kết luận giám định số 96/2022/TgT ngày 05 tháng 4 năm 2022 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở y tế thành phố H kết luận đối với thương tích của anh Trần Minh Đ: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vết thương bàn tay phải gây nên là: 01%; Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vết thương cẳng chân trái gây nên là: 01%. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân do các thương tích trên gây nên theo phương pháp cộng tại Thông tư là: 02%. Vết thương bàn tay phải có đặc điểm do vật sắc hoặc tương đối sắc tác động trực tiếp gây nên. Vết thương, chấn thương cẳng chân trái có đặc điểm do vật tày, có thể có góc cạnh cứng tác động trực tiếp gây nên.
Tại Kết luận giám định số: 5896/KL-KTHS ngày 05 tháng 12 năm 2022 của V1, Bộ C kết luận: Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong các file video gửi giám định. Trích xuất được hình ảnh các đối tượng trong các file video theo nội dung Quyết định trưng cầu giám định. Kiểm tra file video xác định được các đối tượng N, K, T2, K2, H1, P chửi bới, đe dọa, cầm hung khí đuổi đánh anh Đ.
Theo báo cáo của Ủy ban nhân dân xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng sự việc các đối tượng có hành vi chửi bới, đe dọa, dùng hung khí đuổi đánh nhau xảy ra tại thôn V, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng đã gây ảnh hưởng xấu tới trật tự an toàn xã hội tại địa phương.
Các bị các Đỗ Văn N, Bùi Văn K, Nguyễn Việt T2, Nguyễn Duy K2, Đoàn Minh H1 đã bị Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử về tội “Gây rối trật tự công cộng” tại Bản án số 131/2023/HSST ngày 14/12/2023; bị cáo Nguyễn Văn P bỏ trốn, ngày 04/3/2024 ra đầu thú.
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn P khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên.
Cáo trạng số 127/CT-VKS-AD ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng truy tố Nguyễn Văn P về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn P khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên. Bị cáo nhận thức hình vi của mình là trái pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội để lao động giúp đỡ gia đình và trở thành công dân có ích cho xã hội.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 58 và 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P từ 30 tháng đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định pháp luật. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú quản lý, giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định bị cáo có tội và tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của các bị cáo khác, phù hợp với vật chứng thu giữ, với kết luận giám định số 5896/KL-KTHS ngày 05 tháng 12 năm 2022 và với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận: Do bức xúc việc ông Đỗ Khắc V không ký giáp ranh để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất của mình nên vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 04/3/2022 Đỗ Văn N đi cùng với Bùi Văn K đến nhà ông Đỗ Khắc V tại thôn V, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng bằng ô tô để gặp và yêu cầu ông V ký giáp ranh. Khi đến nhà ông V, ông V không có nhà, N đã đỗ xe ô tô biển kiểm soát 15A-788.46 giữa đường giao thông thôn V, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng gây cản trở giao thông ngay trước cổng nhà ông V và cùng Bùi Văn K, Nguyễn Việt T2, Nguyễn Văn P, Đoàn Minh H1, Nguyễn Duy K2 có hành vi chửi bới, thách thức, đe dọa gia đình ông V trong khoảng 60 phút nhằm gây sức ép để ông V phải ký giáp ranh thửa đất. Khi anh Trần Minh Đ đến căn ngăn, nhóm của N chửi anh Đ, K dùng tay đánh vào đầu anh Đ. Sau đó K2 đưa chìa khóa ô tô biển kiểm soát 15A-692.81 để H1 lấy gậy bóng chày. H1 cầm gậy bóng chày cùng K cầm 01 rìu sắt, P cầm 01 gậy đánh golf, T2 cầm gậy bóng chày bằng gỗ đuổi, xông vào tìm đánh anh Đ. Quá trình đuổi đánh, anh Đ bị thương, gây tổn hại 02% sức khỏe, đồng thời gây ảnh hưởng xấu tới an ninh trật tự, an toàn, gây cản trở giao thông tại thôn V, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng. Nguyễn Văn P dùng tay đánh anh Đ và dùng gậy đánh golf cùng với H1, K, T2 đuổi anh Đ hậu quả làm anh Đ bị tổn thương cơ thể 02%, đồng thời gây mất trật tự công cộng ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn tại xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng nên hành vi của bị cáo đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại Điều 318 của Bộ luật Hình sự. Theo quy định của pháp gậy đánh golf được xác định là hung khí nên hành vi của bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt “Dùng hung khí” quy định tại điểm b khoản 2 Điều của 318 Bộ luật Hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự ở địa phương nên hành vi phạm tội của bị cáo phải xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn, hối cải; bị cáo đầu thú nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt: Trong vụ án này các bị cáo không bàn bạc, không ai phân công nhiệm vụ cho ai khi đến chửi bới, thách thức đối với gia đình ông V và đuổi đánh anh Đ nên đánh giá các bị cáo phạm tội với tích chất đồng phạm đơn giản. Bị cáo P là người trực tiếp dùng tay đánh và dùng gậy đánh golf chửi bới, đuổi đánh anh Đ gây mất trật tự ở địa phương. Bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân chưa có tiền án tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm nên áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo P được hưởng án treo như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[6] Các vấn đề khác: Vật chứng, xe ô tô các bị cáo sử dụng đã được giải quyết tại bản án số 131/2023/HS-ST ngày 14/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
[7] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 58 và 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn P.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Nguyễn Văn P cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Q, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau:
- Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
- Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
- Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.
- Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.
Về biện pháp ngăn chặn: Áp dụng Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn Văn P.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6 và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Liên |
Bản án số 111/2024/HS-ST ngày 02/07/2024 của Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng về hình sự - gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 111/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Phúc
