Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG ANH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2025/HSST

Ngày: 17/6/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ Phiên toà: Ông Nguyễn Văn Khánh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hữu Đệ

Bà Hoàng Thị An

- Thư ký phiên toà: Ông: Nguyễn Văn Hùng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Oanh- Kiểm sát viên.

Ngày 17/6/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 112/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đỗ Văn S, sinh 1984 tại Hà Nội; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: Xóm Đ, xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Đỗ Văn S1 (c) và bà Trần Thị N, sinh năm 1959; Vợ: Đỗ Thị H, sinh năm: 1983 (đã ly hôn năm 2015) Có 02 con ( con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2007); Tiền án, tiền sự: Không; Về nhân thân: Ngày 27/6/2002, tại bản án số 44 bị Tòa án huyện Đông Anh tuyên phạt 08 tháng tù cho hưởng án treo, 16 tháng thử thách tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong bản án, án đã xoá; - Ngày 16/12/2005, tại bản án số 146 bị Tòa án huyện Đông Anh tuyên phạt 10 tháng tù giam tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ngày 01.10.2006 chấp hành xong bản án, án đã xoá; - Tại quyết định số 149 ngày 11/01/2011, bị Chủ tịch UBND thành phố H quyết định đưa đi Cơ sở giáo dục thời hạn 24 tháng. Cơ quan điều tra xác minh ngày 07/02/2025 Công an xã K cho biết Đỗ Văn S đã chấp hành xong. Xác định đã xoá; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/4/2025 đến nay có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Bà Đào Thị H1, sinh năm 1972.

Trú tại: Tập thể B, Học Viện K, quận B, thành phố Hà Nội. (vắng mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Bà Trần Thị N, sinh năm 1959 ; Trú tại: Xóm Đ, xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội (vắng mặt).

- Anh Hoàng Ngọc H2, sinh năm 1985 ; Trú tại: Xóm T, xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 30 ngày 21/8/2016 Đỗ Văn S đến Công an xã K, huyện Đ nộp 01 xe máy Wave RSX, sơn màu đen – cam, không đeo BKS; 01 chứng nhận quân đội tên chị Đào Thị H1 và 01 tờ giấy kẻ ô ly trên tờ giấy ghi nội dung chị Đào Thị H1 vay 10.000.000 đồng tiền của anh Hoàng Ngọc H2 có chữ ký của Đào Thị H1 và Đỗ Văn S. Đến 17 giờ cùng ngày chị Đào Thị H1, sinh 1972 trú tại TT 212, Học Viện K, B, Hà Nội đến Công an xã K gửi đơn tố giác Đỗ Văn S có hành vi cướp tài sản của chị.

Quá trình điều tra làm rõ: Khoảng tháng 11/2015, bà Trần Thị N, sinh năm 1959; trú tại: Xóm Đ, xã K, huyện Đ - mẹ đẻ của Sáng vay của bà Nguyễn Thị T tức N1, sinh năm: 1962; trú tại thôn Đ, xã K, huyện Đ số tiền 16.000.000 đồng để về mua con giống chăn nuôi. Đầu năm 2016, qua mối quan hệ xã hội chị Đào Thị H1 quen biết với Đỗ Văn S và bà Trần Thị N. Ngày 09/6/2016, chị H1 vay của bà N số tiền 10.000.000 đồng (lãi suất 3000 đồng/triệu/ngày) trong khoảng thời gian 02 tháng. Sau 01 tháng chị H1 trả cho bà N 1.000.000 đồng tiền lãi. Qua ngày 09/8/2016, thấy chị H1 chưa trả tiền. Đỗ Văn S nhiều lần liên lạc với chị H1 đòi tiền nhưng chị H1 tránh mặt. Do bị bà T đòi tiền nên S đến gặp anh Hoàng Ngọc H2, sinh năm: 1985; trú tại xóm T, xã K, huyện Đ vay số tiền 10.000.000 đồng đưa cho bà N để trả cho bà T. Bà N cầm tiền trả cho bà T 5.000.000 đồng, số tiền còn lại bà N chi tiêu cá nhân. Khoảng 12 giờ ngày 21/8/2016, biết tin chị H1 đến nhà bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1958; trú tại thôn Đ,xã K, huyện Đ chơi, S bảo bà N đến gặp chị H1, bảo chị H1 về nhà S nói chuyện việc trả tiền. Chị H1 điều khiển xe máy Wave RSX, sơn màu cam, không có BKS cùng bà N về nhà Sáng. Chị H1 dựng xe máy trước cổng, đi vào trước lán xây dựng nhà Sáng. Sáng hỏi chị H1 việc trả tiền đã vay, chị H1 nói để về nhà lấy tiền, S không tin nên đã lao vào đấm một cái vào phần đầu và tát một cái trúng mặt chị H1 yêu cầu chị H1 trả số tiền 10.000.000 đồng, nhưng chị H1 vẫn nói để về nhà lấy tiền. Sáng không đồng ý, S đã lấy giấy ra bắt chị H1 viết giấy vay nợ theo nội dung vay anh Hoàng Ngọc H2 số tiền 10.000.000 đồng. Do bị S ép, chị H1 đã phải viết giấy vay nợ theo nội dung do Sáng đọc, S bắt chị H1 đặt lại một chứng minh Quân đội cùng chiếc xe máy Wave RSX, không BKS để làm tin. Thấy sự việc xảy ra, bà N can ngăn Sáng nhưng không được. Sau khi chị H1 viết giấy nhận nợ xong. Đến 16 giờ 30 phút Sáng nhận thấy hành vi trên của mình là trái pháp luật, nên S đã cầm tờ giấy nhận nợ cùng chiếc xe máy và chứng minh quân đội của chị H1 đến giao nộp cho Công an xã K. Ngay sau đó chị H1 đến Công an xã K trình báo sự việc và đến Bệnh viện N2 khám, điều trị thương tích.

Đối với thương tích của chị H1: Kết quả khám thương của chị H1 tại Bệnh viện N2: Mặt và gò má sưng nề, môi rớm máu, đau đầu, chấn thương vùng quai hàm.

Cơ quan điều tra đã Quyết định trưng cầu giám định nhưng chị H1 từ chối khám chứng thương và giám định tỷ lệ thương tật.

Tại Cơ quan điều tra, Đỗ Văn S đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của S phù hợp với hiện trường vụ án và các tài liệu điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng tạm giữ của Đỗ Văn S:

Của Đỗ Văn S:

  • 01 điện thoại di động OPPO, vỏ màu trắng, kèm theo 02 sim trong máy;
  • 01 xe máy Wave RSX, sơn màu đen – cam, không đeo BKS;
  • 01 chứng nhận quân đội tên chị Đào Thị H1 và 01 tờ giấy kẻ ô ly trên tờ giấy ghi nội dung chị Đào Thị H1 vay tiền của anh Hoàng Ngọc H2 có chữ ký của Đào Thị H1 và Đỗ Văn S.

Của chị Đào Thị H1:

  • 01 Phiếu thanh toán mua xe máy; 01 sổ khám bệnh; 01 biên lai thu tiền số 056646; 01 hóa đơn thuốc bán lẻ; 01 hồ sơ chụp CT Scanner.

Tại kết luận giám định số 338 ngày 16 tháng 01 năm 2017 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận:

  • Chữ viết trên Giấy vay tiền với chữ viết của chị Đào Thị H1 trên 02 đơn trình báo đứng tên Đào Thị H1 là chữ do cùng một người viết;
  • Không đủ căn cứ kết luận chữ ký đứng tên Đào Thị H1 trên đơn trình báo với chữ ký đứng tên Đào Thị H1 trong giấy vay tiền.

Tại kết luận định giá tài sản số 472 ngày 16/9/2016 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận:

  • 01 xe máy Wave RSX, sơn màu đen – cam, số máy 0088411, số khung: 026721, không đeo BKS, trị giá 20.000.000 đồng.

Xử lý vật chứng:

Đối với 01 xe máy Wave RSX, sơn màu đen – cam, không BKS; 01 chứng nhận quân đội, 01 Phiếu thanh toán mua xe máy; 01 sổ khám bệnh; 01 biên lai thu tiền số 056646; 01 hóa đơn thuốc bán lẻ; 01 hồ sơ chụp CT Scanner là tài sản, giấy tờ cá nhân của chị H1, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý vật chứng, trao trả cho chị H1.

Đối với 01 điện thoại di động OPPO, vỏ màu trắng, kèm theo 02 sim Sáng sử dụng vào việc phạm tội là vật chứng vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh giải quyết theo thẩm quyền.

Về bồi thường dân sự:

Chị Đào Thị H1 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với Đỗ Văn S và không có yêu cầu, đề nghị gì về dân sự. Chị H1 đã trả cho bà N số tiền 6.000.000 đồng, số tiền nợ còn lại, bà N và chị H1 tự thỏa thuận, không đề nghị giải quyết. Bà N đã trả cho anh H2 số tiền 10.000.000 đồng và trả cho bà T số tiền 16.000.000 đồng. Bà Trần Thị N không có yêu cầu gì về dân sự đối với Đỗ Văn S.

Đối với hành vi cho vay lãi của bà N, không cấu thành tội cho vay lãi nặng nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với thương tích của chị Đào Thị H1, chị H1 từ chối giám định thương tích và không có yêu cầu bồi thường dân sự đối với Sáng, Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.

Tại bản Cáo trạng số 104/CT-VKSÐA ngày 19/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh đã quyết định truy tố bị cáo Đỗ Văn S về Tội cướp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự.

Tại Phiên tòa:

Bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, nay rất ân hận mong Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của bị cáo để được giảm nhẹ hình phạt sớm có cơ hội làm lại cuộc đời, trở thành công dân có ích cho xã hội.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố về tội danh và điều luật như Cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm s,r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ Luật Hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Đỗ Văn S với mức án từ 42 đến 48 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 13/4/2025.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về dân sự: Không ai yêu cầu bồi thường nên không giải quyết.

Về vật chứng: Tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động OPPO, vỏ màu trắng, kèm theo 02 sim.

Bị cáo không tranh luận gì, chỉ mong Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của bị cáo để được giảm nhẹ hình phạt sớm có cơ hội làm lại cuộc đời, trở thành công dân có ích cho xã hội và hứa không tái phạm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là đúng quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, cũng như quá trình điều tra bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ. Do đó có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 12 giờ ngày 21/8/2016 tại nhà Đỗ Văn S ở Xóm Đ, xã K, huyện Đ, Hà Nội. Bị cáo S với mục đích bắt chị H1 phải trả tiền nhưng không trả, nên đã có hành vi dùng vũ lực (tay) đấm một cái vào phần đầu và tát một cái trúng mặt chị H1 rồi bắt chị H1 viết giấy vay nợ theo nội dung Sáng đọc cho chị H1 viết, do sợ hãi không thể chống cự được nên chị H1 phải viết giấy vay số tiền 10.000.000 đồng của anh Hoàng Ngọc H2, đồng thời Sáng bắt chị H1 để lại một chứng minh Quân đội cùng chiếc xe máy Wave RSX, không BKS để làm tin. Sau khi sự việc xảy ra, đến khoảng 16h30 cùng ngày S thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên đã chủ động ra trình báo Công an. Hành vi ấy của bị cáo đã cấu thành tội Cướp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo theo bản Cáo trạng số 104/CT-VKSÐA ngày 19/5/2025 là có căn cứ pháp luật, đúng người và đúng tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự công cộng, làm ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt đời sống xã hội. Do đó việc đưa bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật là cần thiết nhằm răn đe, giáo dục bị cáo đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Bộ luật hình sự quy định để có một mức hình phạt cho tương xứng.

Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản chiếm đoạt đã chủ động giao cho Công an để trả cho người bị hại, Người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đó là tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm r,s khoản1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Nhưng với nhân thân của bị cáo đã có 02 tiền án và 01 tiền sự vào ngày 27/6/2002, Tòa án nhân dân huyện Đông Anh xử phạt 08 tháng tù cho hưởng án treo, 16 tháng thử thách tội Trộm cắp tài sản, ngày 16/12/2005 Tòa án huyện Đông Anh tuyên phạt 10 tháng tù giam tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và ngày 11/01/2011, bị Chủ tịch UBND thành phố H quyết định đưa đi Cơ sở giáo dục thời hạn 24 tháng. Mặc dù tiền án, tiền sự đã được xóa nhưng điều đó thể hiện nhân thân của bị cáo là xấu, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo thì các tình tiết giảm nhẹ chỉ để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt và cần thiết phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tại trại giam trong thời hạn nhất định mới có đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội và còn có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ lại chủ động ra tự thú nên Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp hơn mức án do đại diện viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là phù hợp.

[3] Về hình phạt bổ sung: Tại Khoản 6 Điều 168 Bộ luật hình sự còn quy định về hình phạt bổ sung, nhưng xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng, nên miễn không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về phần dân sự: Không ai có yêu cầu, nên không xét.

[5] Về vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện Đ có thu và xử lý còn chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh 01 điện thoại di động OPPO, vỏ màu trắng, kèm theo 02 sim trong máy. Tại phiên toà hôm nay bị cáo không xin lại do vậy cho tịch thu pháp mại nộp ngân sách nhà nước.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn S phạm tội Cướp tài sản.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 168, điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Đỗ Văn S 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/4/2025.

Về dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của các bên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về vật chứng: Tịch thu phát mại nộp vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, vỏ màu trắng, ốp lưng màu vàng, kèm theo 02 thẻ sim. Tình trạng như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H với Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh ngày 26/5/2025.

Về án phí: Bị cáo Đỗ Văn S phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại, người liên quan
  • - VKSND huyện Đông Anh;
  • - Công an thành phố Hà Nội;
  • - Chi cục THADS huyện Đông Anh;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu hồ sơ.

Nguyễn Văn Khánh

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 111/2025/HSST ngày 17/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tội cướp tài sản

  • Số bản án: 111/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tội cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hình sự sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger