Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHỦ LÝ

TỈNH HÀ NAM

Bản án số: 111/2025/HS-ST

Ngày 30-6-2025.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thanh Sơn.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Chương và ông Lê Chí Trung.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Hồng Liên - Thư ký Tòa án.
  • Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 82/2025/TLST-HS ngày 07/05/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2025/QĐXXST-HS ngày 19/6/2025 đối với bị cáo:

  • Nguyễn Huy N, sinh năm 1990 tại Hà Nam; nơi cư trú: Thôn H, xã T, thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Dương Thị N và không xác định được bố đẻ; có vợ là Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1996 và 02 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị bắt, tạm giữ ngày 20/11/2024, tạm giam từ ngày 26/11/2024 đến nay; có mặt.
  • Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Lê Thị Tâm L, sinh năm 1991; trú tại: Tổ 4, phường L, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; có mặt.
  • Người làm chứng: Anh Lê Tiến H, sinh năm 1987; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 20/11/2024, trong khi làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực đường bờ kè thuộc tổ dân phố Hồng Phú, phường Thanh Châu, thành phố Phủ Lý, tổ công tác thuộc đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế, ma túy Công an thành phố Phủ Lý phát hiện Nguyễn Huy N có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra hành chính. Tại chỗ, lực lượng Công an phát hiện trong hốc bên trái phía trước của xe máy điện do N điều khiển có 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, kiểm tra trong vỏ bao thuốc lá thấy có 01 túi nilon màu trắng, miệng túi có kẹp nhựa viền màu đỏ bên trong chứa 03 viên nén hình tròn màu đỏ, khai nhận đó là túi ma túy N mua hộ cho một người đàn ông tên Hoàng (N không biết về nhân thân, lai lịch, địa chỉ) để hưởng tiền công. Lực lượng Công an đã lập biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Huy N và thu giữ, niêm phong tang vật theo quy định.

Vật chứng thu giữ của vụ án gồm: 01 túi nilon màu trắng có kẹp nhựa viền màu đỏ bên trong chứa 03 viên nén hình tròn màu đỏ được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu đen; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng và 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu DKBIKE.

Tại bản Kết luận giám định số 913/KL-KTHS ngày 25/11/2025, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận: “Mẫu viên nén trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,295gam, loại Methamphetamine”.

Bản Cáo trạng số 91/CT-VKS-PL ngày 06/05/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đã truy tố Nguyễn Huy N về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý thực hành quyền công tố Nhà nước giữ nguyên quan điểm không thay đổi, bổ sung về nội dung đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Huy N, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Hình phạt chính: Xử phạt Nguyễn Huy N từ 24 tháng đến 30 tháng tù.
  • - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • - Xử lý vật chứng của vụ án theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Lê Thị Tâm L trình bày, xác định chiếc xe máy điện nhãn hiệu DKBIKE thu giữ trong vụ án là tài sản hợp pháp của chị giao cho bị cáo Nguyễn Huy N mượn để sử dụng. Chị L không biết việc bị cáo đã sử dụng chiếc xe làm phương tiện để thực hiện tội phạm, chị L đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, trả lại cho chị chiếc xe máy điện.

Bị cáo Nguyễn Huy N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đối với người tham gia tố tụng là người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được Cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Huy N đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và bị bắt giữ quả tang đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với chứng cứ của vụ án được thẩm tra tại phiên tòa như biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận giám định về chất ma túy, sao kê giao dịch tài khoản cá nhân của Ngân hàng ACB, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 20/11/2024, tại khu vực tổ dân phố Hồng Phú, phường Thanh Châu, thành phố Phủ Lý, Nguyễn Huy N bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế, ma túy Công an thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam bắt giữ quả tang đang cất giấu trái phép 0,295gam chất ma túy loại Methamphetamine. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra để làm rõ mục đích của việc cất giấu trái phép chất ma túy theo lời khai của bị cáo là mua hộ cho người khác để hưởng tiền công nhưng không có cơ sở nào để xác định về người đã đưa tiền, trả công cho bị cáo đê đi mua ma túy, ngoài lời khai của bị cáo ra thì không có tài liệu, chứng cứ nào trong hồ sơ vụ án phù hợp, chứng minh bị cáo đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy theo quy định của pháp luật. Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

  • 4.1. Về nhân thân: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; nhân thân tốt, bản thân chưa có tiền án, tiền sự.
  • 4.2. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định của Bộ luật Hình sự.
  • 4.3. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội đã thực hiện nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt:

  • 5.1. Hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mức độ nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và các chất gây nghiện trực tiếp là các hoạt động cất giữ, tàng trữ chất ma túy, gây mất trật tự, an toàn cho xã hội, làm nảy sinh tệ nạn ma túy là mầm mống, nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Vì vậy, cần có mức hình phạt nghiêm minh, tương xứng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm bị cáo đã thực hiện mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật đồng thời nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh ngăn chặn, phòng ngừa tội phạm.
  • 5.2. Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định và tài sản riêng; phạm tội không vì mục đích vụ lợi nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung (như phạt tiền, tịch thu tài sản...) đối với bị cáo.

[6] Về tình tiết khác của vụ án:

  • 6.1. Đối với người đàn ông tên Hoàng khoảng 30 tuổi gặp ở khu vực cầu Châu Sơn, phường Châu Sơn, thành phố Phủ Lý theo bị cáo khai là người đã chuyển tiền cho bị cáo nhờ đi mua hộ chất ma túy và người đàn ông tên Tình ở phường Thanh Châu, thành phố Phủ Lý là người đã bán trái phép ma túy cho bị cáo để cất giấu, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh để làm rõ nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ của những người này, ngoài lời khai của bị cáo ra thì không còn có tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xem xét, xử lý đối với những người này là có căn cứ.
  • 6.2. Đối với số tiền 700.000đồng do số tài khoản 54005488 Ngân hàng ACB đứng tên Nguyễn Hương Thảo, sinh năm 1992 trú tại số 4 Tiểu Công Nghệ, Yết Kiêu, Hà Đông, Hà Nội, Giám đốc Công ty TNHH buôn bán nông sản Hà Phương và số tiền 450.000đồng do số tài khoản 62042186 đứng tên Thạch Dĩ An, sinh năm 2000 trú tại số 90A/33F Âu Dương Lan, phường 3, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh, Giám đốc Công ty TNHH FATIGU đã chuyển khoản vào số tài khoản của Nguyễn Huy N, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã xác định chị Thảo không đăng ký, sử dụng số tài khoản nào tại Ngân hàng ACB mang tên chị, không biết ai là người đăng ký, sử dụng số tài khoản đó, không biết Nguyễn Huy N là ai và không chuyển tiền cho N; đối với người mang tên Thạch Dĩ An do không còn ở địa phương nơi cư trú nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh để làm rõ, do đó Cơ quan điều tra đã không xem xét, xử lý đối với những người này là có cơ sở.

[7] Về xử lý vật chứng đã thu giữ:

  • 7.1. Đối với chiếc xe máy điện nhãn hiệu nhãn hiệu DKBIKE, quá trình điều tra đã xác định là tài sản hợp pháp của chị Lê Thị Tâm L giao cho Nguyễn Huy N mượn để sử dụng, chị Lan không biết về việc bị cáo đã sử dụng chiếc xe làm phương tiện thực hiện tội phạm nên trả lại tài sản này cho chị Lan.
  • 7.2. Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG là tài sản hợp pháp của bị cáo, được bị cáo sử dụng vào việc nhắn tin, liên lạc với người đàn ông tên Tình ở phường Thanh Châu, thành phố Phủ Lý để mua ma túy nên là công cụ phạm tội, cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
  • 7.3. Đối với toàn bộ số Methamphetamine hoàn trả sau giám định cùng bao gói và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 47, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các điều 329, 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huy N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 27 (hai mươi bẩy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 20/11/2024.
  2. Xử lý vật chứng:
    • 2.1. Trả lại cho chị Lê Thị Tâm L 01 (một) xe máy điện màu nâu đen nhãn hiệu DK, số máy: 220416151, số khung: RRWYGEKGNNSG04141.
    • 2.2. Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, được niêm phong trong phong bì số 15/PC09-KTSĐT, mặt trước phong bì có ghi: “Mẫu vật hoàn trả”, mặt sau phong bì có chữ ký, dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam.
    • 2.3. Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì đã niêm phong số 913/KTHS, mặt trước phong bì có ghi: “Mẫu vật hoàn trả QT01”, mặt sau phong bì có chữ ký, dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam và 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng.

    Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Nam và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý ngày 09/05/2025.

  3. Án phí: Bị cáo Nguyễn Huy N nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND thành phố Phủ Lý;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Chi cục THADS thành phố Phủ Lý;
  • - Người có QL, NVLQ đến vụ án;
  • - Bị cáo Nguyễn Huy N;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Lê Thanh Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 111/2025/HS-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 111/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Huy N phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger