|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 111/2025/HS-ST Ngày 25-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hậu
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Hạnh
- Ông Vũ Khắc Tân
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Hoàng Hải Bình - Thư ký Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hoài – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 98/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 435/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2025 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 461/TB-TA ngày 24/6/2025đối với bị cáo:
Lò Văn T, sinh ngày 05 tháng 10 năm 1983 tại Điện Biên; nơi ĐKTT: Bản Khén, xã X, huyện M, tỉnh Điện Biên; nơi sinh sống: Không nơi ở cố định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn M và bà Lò Thị S (đã chết); có vợ là Lò Thị T1 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ ngày 04/01/2025, tạm giam ngày 13/01/2025; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Minh N; sinh năm 1975 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý thành phố H; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 30 phút ngày 04/01/2025, tổ công tác Công an phường V làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực đầu ngõ B T, quận L, Hải Phòng phát hiện Lò Văn T có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Quá trình kiểm tra, T thả từ tay trái xuống đất 01 túi nilon màu trắng mép viền màu đỏ bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy. Tổ công tác đã thu giữ vật chứng và đưa T về trụ sở Công an phường V lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ 01 xe mô tô biển kiểm soát 20L3-7874 và số tiền 57.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số 118/KL-KTHS ngày 15/01/2025 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: Chất bột màu trắng trong 01 túi nilon thu giữ của Lò Văn T là ma túy có khối lượng 0,23 gam là loại Heroine.
Tại Cơ quan điều tra, Lò Văn T khai: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 04/01/2025, T điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát: 20L3-7874 đi từ khu Đ, K, Hải Phòng đến khu vực đường T, L, Hải Phòng để tìm mua ma túy H về sử dụng cho bản thân. Khi đi đến khu vực chắn tàu Trần Nguyên H1, T gặp và thỏa thuận mua 100.000 đồng ma túy Heroine với 01 nam giới không quen biết. Người nam giới nhận tiền và bảo T2 đi theo vào ngõ B T, Lê C, Hải Phòng. Khi vào ngõ, người nam giới đi vào một ngách còn T2 đứng ngoài đợi. Khoảng 05 phút sau, người nam giới quay lại đưa cho T2 01 túi nilon chứa chất bột màu trắng sau đó đi đâu T2 không rõ. T2 cầm túi nilon chứa ma túy trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe về đến khu vực đầu ngõ B T, L, Hải Phòng thì bị lực lượng Công an phường V kiểm tra. Quá trình kiểm tra, T2 đã thả túi nilon chứa chất bột màu trắng vừa mua được từ tay trái xuống đất cách vị trí bánh xe trước xe mô tô do T2 điều khiển khoảng 20cm. Lực lượng Công an đã phát hiện và thu giữ vật chứng như nội dung nêu trên.
Về vật chứng: Chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận L 01 phong bì có dấu niêm phong số 23MT/PC09 đựng ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao bì và số tiền 57.000 đồng.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave, biển kiểm soát 20L3-7874, quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.
Tại Bản Cáo trạng số 98/CT-VKSLC ngày 10/6/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Lò Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như nội dung nêu trên.
Kiểm sát viên tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn T với mức án từ 18 đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Không đề nghị hình phạt bổ sung là hình phạt tiền do bị cáo không có tài sản riêng và thu nhập ổn định. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì có dấu niêm phong số 23MT/PC09 đựng ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao bì; trả lại bị cáo số tiền 57.000 đồng. Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khắn, có đơn xin miễn án phí nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo: Đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố bị cáo về tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và điều luật áp dụng. Tuy nhiên, bị cáo là người dân tộc thiểu số (dân tộc Thái) thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, sự hiểu biết tác hại ma tuý đối với con người và xã hội của bị cáo hạn chế hơn so với những người khác; bị cáo đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình và có thái độ khai báo thành khẩn và ăn năn hối cải. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng cho bị cáo được hưởng mức mình phạt thấp nhất của Viện kiểm sát đã đề nghị tại phiên toà. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo; miễn tiền án phí cho bị cáo do bị cáo là người dân tộc thiểu số thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn là đối tượng được miễn án phí.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì thêm. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:
[2] Lời khai của bị cáo Lò Văn T tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, khẳng định: Hồi 12 giờ 30 phút ngày 04/01/2025, tại khu vực đầu ngõ B T, V, Lê C, Hải Phòng, bị cáo Lò Văn T đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 0,23 gam Heroine để sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang.
[3] Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lò Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[4] Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là đúng theo quy định của pháp luật.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
[5] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[6] Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và quyết định hình phạt đối với bị cáo:
[7] Mặc dù nhân thân của bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, làm suy giảm sức khỏe con người và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo theo quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần do bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; là người dân tộc thiểu số thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn như quan điểm của người bào chữa cho bị cáo đã trình bày.
- Về hình phạt bổ sung:
[8] Bị cáo không có tài sản riêng và thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
- Về xử lý vật chứng:
[9] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì có dấu niêm phong số 23MT/PC09 đựng ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao bì do đây là vật cấm lưu hành; trả lại bị cáo số tiền 57.000 đồng do không liên quan đến hành vi phạm tội.
- Về án phí:
[10] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đề nghị xin miễn án phí nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt bị cáo Lò Văn T 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/01/2025.
- Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì có dấu niêm phong số 23MT/PC09 đựng ma túy còn lại sau giám định.
Trả lại bị cáo số tiền 57.000 (năm mươi bảy nghìn) đồng.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; Ủy nhiệm chi lập ngày 11/6/2025 tại Kho bạc nhà nước khu vực I – đơn vị nhận tiện: Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân).
- Về án phí:
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn T.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hậu |
5
Bản án số 111/2025/HS-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 111/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Văn Toàn
