|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 111/2025/HS-ST Ngày: 23-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI
***
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đinh Văn Thông.
- Bà Lê Thị Hồng Thanh.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Dương Bùi Minh Thư - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cường - Kiểm sát viên.
Vào ngày 23/6/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 91/2025/HSST ngày 29/4/2025; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/HSST - QĐ ngày 10 tháng 6 năm 2025; đối với các bị cáo:
Trương Quốc H, sinh năm 1967; Tại Quảng Trị; Nơi cư trú: Khu phố N, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn Ú (đã chết) và bà Lê Thị Đ (đã chết); vợ Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1967, con: có 04 người con lớn sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 2001. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo áp dụng biện pháp cấm đi khởi nơi cư trú.
Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1967; Tại Quảng Trị; Nơi cư trú: Khu phố N, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn L1, sinh năm 1940 và con bà Lê Thị H1, sinh năm 1950, chồng Trương Quốc H, sinh năm 1967, con: có 04 người con lớn sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 2001. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trương Quốc H cùng vợ là Nguyễn Thị Kim L là người đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 71, tờ bản đồ số 33, diện tích 7.130,6 m², tọa
- 1 -
lạc tại khu phố T, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Khoảng cuối năm 2021, biết vợ chồng Trương Quốc H và Nguyễn Thị Kim L có nhu cầu chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên nên ông Trần Trung H2, sinh năm 1982, ngụ tại khu phố N, phường B, thành phố L đã giới thiệu cho Trần A H3 đến gặp vợ chồng Trương Quốc H, Nguyễn Thị Kim L để thỏa thuận mua lại thửa đất trên. Sau khi thỏa thuận, Trương Quốc H và Nguyễn Thị Kim L đồng ý chuyển nhượng thửa đất số 71, tờ bản đồ số 33, diện tích 7.130,6 m², tại khu phố T, phường B, thành phố L cho Trần A H3 với giá chuyển nhượng là 7.350.000.000 đồng. Trần A H3 viết giấy tay, đặt cọc trước cho vợ chồng Trương Quốc H, Nguyễn Thị Kim L, số tiền 600.000.000 đồng.
Đến ngày 06/01/2022, Trương Quốc H, Nguyễn Thị Kim L và Trần A H3 đến Văn phòng C, tại đường H, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai để ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất trên. Để giảm tiền thuế thu nhập cá nhân và lệ phí trước bạ phải nộp theo quy định của pháp luật; Trần A H3, Trương Quốc H và Nguyễn Thị Kim L thỏa thuận khai giá trị chuyển nhượng đất trên Hợp đồng là 700.000.000 đồng thấp hơn giá chuyển nhượng thực tế là 6.650.000.000 đồng. Công chứng viên Văn phòng C căn cứ vào Đề nghị công chứng Hợp đồng và giá trị chuyển nhượng thỏa thuận giữa các bên lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất 71, tờ bản đồ số 33, diện tích 7.130,6 m2, tại khu phố T, phường B, thành phố L với giá chuyển nhượng là 700.000.000 đồng, vào số Công chứng 83, quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD. Sau khi ký hợp đồng công chứng, Trần A H3 đã giao đủ số tiền còn lại là 6.750.000.000 đồng (giao tiền mặt) cho vợ chồng Trương Quốc H, Nguyễn Thị Kim L. Trương Quốc H và Nguyễn Thị Kim L đã giao lại cho Trần A H3 số tiền 20.000.000 đồng để H3 đóng thuế.
Ngày 06/01/2022, Trần A H3 đã kê khai nộp lệ phí trước bạ, thuế thu nhập cá nhân Văn phòng Đ1 chi nhánh L3 với giá trị chuyển nhượng đất là 700.000.000 đồng. Ngày 20/01/2022 Trần A H3 nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 6.061.010 đồng tiền lệ phí trước bạ và 24.244.040 đồng tiền thuế thu nhập cá nhân và đăng ký người sử dụng đất. Ngày 18/01/2022, Văn phòng Đ1 Chi nhánh L3 điều chỉnh đăng ký biến động tên người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên là Trần A H3.
Tại Kết luận giám định tư pháp số 799/KL-CTDON ngày 22/1/2025, của Giám định viên tư pháp Cục thuế tỉnh Đ kết luận:
“...Cơ quan thuế ban hành thông báo các khoản nghĩa vụ tài chính phải nộp trên cơ sở giá đất được ủy ban nhân dân tỉnh Q tại thời điểm chuyển nhượng do giá đất trên hợp đồng chuyển nhượng 700.000.000 đồng thấp hơn giá ủy ban nhân dân tỉnh quy định 1.212.202.000 đồng, cụ thể :
- + Số tiền lệ phí trước bạ = 1.212.202.000 đồng X 0,5% = 6.061.010 đồng.
- + Số tiền thuế thu nhập cá nhân = 1.212.202.000 đồng X 2% = 24.244.040 đồng.
Căn cứ cơ sở dữ liệu quản lý thuế thể hiện, số tiền lệ phí trước bạ 6.061.010 đồng và số tiền thuế thu nhập cá nhân 24.244.040 đồng được nộp đủ vào ngân sách Nhà nước.
Căn cứ tài liệu của Cơ quan Cảnh sát điều tra xác định thời điểm tháng 1/2022 ông Trương Quốc H và bà Nguyễn Thị Kim L chuyển nhượng quyền sử dụng đất số
- 2 -
71, tờ bản đồ số 33 phường B, thành phố L, diện tích 7.130,6m2 cho ông Trần A H3 với giá giao dịch chuyển nhượng thực tế số tiền là 7.350.000.000 đồng, tương ứng với nghĩa vụ tài chính như sau:
- + Số tiền lệ phí trước bạ = 7.350.000.000 đồng x 0,5% = 36.750.000 đồng.
- + Số tiền thuế thu nhập cá nhân = 7.350.000.000 đồng x 2% = 147.000.000 đồng.
Các khoản nghĩa vụ tài chính chênh lệch được xác định căn cứ tài liệu của Cơ quan Cảnh sát điều tra so với tiền người nộp thuế đã nộp ngân sách Nhà nước:
- + Số tiền lệ phí trước bạ chênh lệch = 36.750.000 đồng - 6.061.010 đồng = 30.688.990 đồng.
- + Số tiền thuế thu nhập cá nhân chênh lệch = 147.000.000 đồng - 24.244.040 đồng = 122.755.960 đồng...”
Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, Trần A H3 đã bỏ trốn khỏi địa phương.
Vật chứng thu giữ và xử lý: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã thu giữ các tài liệu phô tô, sao y gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 71, tờ bản đồ số 33 phường B, thành phố L, diện tích 7.130,6 m², Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tài liệu kê khai nộp thuế liên quan đến quyền sử dụng đất thửa đất số 71, tờ bản đô số 33 phường B, thành phố L, diện tích 7.130,6 m² tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ1 - Chi nhánh L3, Chi cục thuế khu vực L - C và Văn phòng C. Các tài liệu này được đưa vào hồ sơ vụ án.
Về biện pháp tư pháp: Trương Quốc H và Nguyễn Thị Kim L đã giao nộp lại số tiền 122.755.960 đồng tiền thuế thu nhập cá nhân vào Kho bạc Nhà nước L4.
Tại bản Cáo trạng số: 94/CT-VKS.LK ngày 28/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh đã truy tố các bị cáo Trương Quốc H, Nguyễn Thị Kim L về tội “Trốn thuế” theo điểm đ khoản 1 Điều 200 Bộ luật Hình sự 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Quá trình điều tra các bị cáo Trương Quốc H, Nguyễn Thị Kim L đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Trương Quốc H và Nguyễn Thi Kim L2 đã đến Chi cục Thuế khu vực L5 để kê khai lai thuế, nộp bổ sung số tiền 122.755.960 đồng tiền thuế thu nhập cá nhân để khắc phục hậu quả. Tại địa phương, hộ gia đình Trương Quốc H được Ủy ban nhân dân xã B tặng giấy khen có thành tích xuất sắc trong phong trào “hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi tiêu biểu” năm 2017.
Đối với Trần A H3 ngày 19/3/2025 Cơ quan cảnh sát điều tra công an Tỉnh Đ ra quyết định truy nã số 3999/QĐTN-CSKT khi nào bắt được sẽ xử lý sau.
Về hình phạt, đề nghị xử phạt:
Đối với bị cáo Trương Quốc H, Nguyễn Thị Kim L mỗi bị cáo phải nộp số tiền từ 100.000.000đồng đến 150.000.000đồng.
- 3 -
Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa các bị cáo không thắc mắc khiếu nại gì về quá trình tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh và khung hình phạt:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên Tòa các bị cáo Trương Quốc H và Nguyễn Thị Kim L đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận:
Ngày 06/01/2022, tại Văn phòng công chứng Võ Văn Thành phường C, thành phố L, Trần A H3 nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất 71, tờ bản đồ số 33, diện tích 7.130,6 m², tại khu phố T, phường B, thành phố L của Trương Quốc H, Nguyễn Thị Kim L với giá chuyển nhượng là 7.350.000.000 đồng. Trần A H3 và Trương Quốc H, Nguyễn Thị Kim L thỏa thuận chỉ ghi trên hợp đồng công chứng giá trị chuyển nhượng đất là đồng là 700.000.000 đồng để làm giảm tiền thuế thu nhập cá nhân và lệ phí trước bạ phải nộp theo quy định của pháp luật, gây thiệt hại cho tài sản Nhà nước 122.755.96 đồng thuế thu nhập cá nhân.
Tại khoản 5 Điều 143 Luật Quản lý thuế năm 2019, quy định:
“Điều 143: Hành vi trốn thuế
5. Sử dụng chứng từ, tài liệu không phản ánh đúng bản chất giao dịch hoặc giá trị giao dịch thực tế để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm, số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế không phải nộp.”
Tại điểm đ khoản 1 Điều 200 Bộ luật Hình sự (BLHS) quy định:
“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây trốn thuế với số tiền từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196, 202, 250, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm”
- 4 -
đ) Sử dụng chứng từ, tài liệu không hợp pháp để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được hoàn;
Hành vi phạm tội của các bị cáo, có cơ sở để xác định, mặc dù hợp đồng chuyển nhượng các thửa 71, tờ bản đồ số 33, diện tích 7.130,6 m², tại khu phố T, phường B, thành phố L được các bên giao kết về mặt hình thức tuân thủ đúng quy định của pháp luật đất đai, về công chứng. Tuy nhiên, các bị cáo gian dối về nội dung, làm cho hợp đồng không phản ánh đúng bản chất của giao dịch, nên hợp đồng đã xác lập giữa các bên không hợp pháp về mặt nội dụng đã dẫn đến việc cơ quan thuế xác định sai số tiền thuế thu nhập cá nhân mà lẽ ra các bị cáo H và L phải nộp, Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Trốn thuế” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 200 của Bộ luật hình sự nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng nêu trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
Hành vi của các bị cáo mặc dù đơn giản, nhưng đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý thuế của Nhà nước, làm thất thu nguồn ngân sách Nhà nước, xâm hại đến đường lối phát triển kinh tế, xã hội, chính sách thuế của Nhà nước. Các bị cáo là người chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho Trần A H3 và là người phải có nghĩa vụ đóng thuế thu nhập cá nhân theo quy định. Tuy nhiên, khi mua bán các bên đã thỏa thuận Trần A H3 làm thủ tục sang nhượng đồng thời là người đóng thuế và trên thực tế các bị cáo đã đưa cho H3 20.000.000 đồng để đóng thuế. Tuy nhiên, các bị cáo khi ký hợp đồng chuyển nhượng phải biết giá trị ghi trong hợp đồng chuyển nhượng và giá trị thực tế, nhưng các bị cáo H và L vẫn ký giá thấp hơn giá chuyển nhượng dẫn đến thất thoát tiền thuế của Nhà nước. Do đó, cần có mức hình phạt đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người có vai trò giúp sức cho đối tượng Trần A H3 trong việc phải kê khai đóng thuế thu nhập cá nhân, đã làm thất thoát tiền thuế nhà nước nên các bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
- Về tình tiết giảm nhẹ:
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử đã xem xét các bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo nộp toàn bộ thuế để khắc phục toàn bộ thiệt hại cho nhà nước; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo được Ủy ban nhân dân xã B tặng giấy khen có thành tích xuất sắc trong phong trào “hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi tiêu biểu” năm 2017; các bị cáo là người học vấn thấp nên việc hiểu biết pháp luật còn hạn chế là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng:
các bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.
- 5 -
Từ những phân tích đánh giá nêu trên xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, các bị cáo không được hưởng bất cứ lợi ích vật chất nào từ hành vi phạm tội nên cần áp dụng Điều 35 của Bộ luật hình sự, xử phạt tiền đối với các bị cáo là phù hợp, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
Đối với Trần A H3 hiện đã đi khỏi địa phương nên Cơ quan cảnh sát điều tra công an Tỉnh Đ ra quyết định truy nã số 3999/QĐTN-CSKT ngày 19/3/2025, khi nào bắt được sẽ xử lý sau là phù hợp.
Về án phí: Các bị cáo là người bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 200; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- - Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- - Căn cứ khoản 2 Điều 136; Điều 260; 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Trương Quốc H và Nguyễn Thị Kim L phạm tội: “Trốn thuế”.
Về hình phạt:
- - Xử phạt bị cáo Trương Quốc H số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim L số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).
Về án phí:
Buộc các bị cáo mỗi người phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- 6 -
| Hội thẩm nhân dân | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
- 7 -
Nguyễn Văn Hùng
- 8 -
Bản án số 111/2025/HS-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI về trốn thuế (tax evasion)
- Số bản án: 111/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trốn thuế (Tax Evasion)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Xử phạt bị cáo Trương Quốc H số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim L số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).
