|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 111/2025/HS - ST Ngày 13 - 6 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
----------
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Kim và ông Nguyễn Văn Chiến.
Thư ký phiên toà: Bà Chu Thị Minh Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Tiến Sỹ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 13 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở TAND thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự Thụ lý số 80/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2025/QĐXXST-HS ngày 06/5/2025; Quyết định hoãn phiên toà số 16/2025/QÐST-HS ngày 21/5/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 21/2025/QÐST-HS ngày 04/6/2025 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Trần Ngọc H, sinh năm 1994. Giới tính: Nam..
Tên gọi khác: không.
Nơi thường trú: Khu G, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Đảng, chính quyền, đoàn thể: không.
Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12.
Họ và tên bố: Trần Ngọc Đ (đã chết).
Họ và tên mẹ: Quản Thị H1.
Gia đình có hai anh em, bị can là con thứ nhất.
Vợ: Nguyễn Thị H2, sinh năm 1995 (đã ly hôn).
Con: bị can có 01 con sinh năm 2013.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị can đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 14/01/2025 đến ngày 23/01/2025 được thay thể biện pháp ngăn chặn, hiện đang tại ngoại.
Bị hại: Anh Vi Việt T, sinh năm 2001. Địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Ngọc H, sinh năm 1994, trú tại Khu G, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ làm công nhân tại xưởng 103 Công ty trách nhiệm hữu hạn F (viết tắt là Công ty F1) ở Khu công nghiệp Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang từ tháng 02/2024. Khoảng 20 giờ ngày 02/01/2025. Trần Ngọc H và anh Dương Công P, sinh năm 2005, trú tại thôn T, xã C, huyện B, tỉnh Lạng Sơn là người làm cùng xưởng được phân công tăng cường sang làm việc tại xưởng 104 của Công ty. Sau khi được phân công, H và anh P đi ra dãy tủ để đồ công nhân xưởng 103 ở bên ngoài xưởng sản xuất lấy đồ cá nhân. Khi đi đến tủ đồ số 11 của mình, H phát hiện tủ đồ số 10 của anh Vi Việt T, sinh năm 2001, trú tại thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Giang là người làm cũng xưởng, không khóa, cánh tủ mở. Thấy vậy, H bảo anh P “sao tù của ai mà không khóa vào" thì anh P bảo “thôi ngó vào làm gì”. H nhìn vào bên trong tủ số 11, thấy có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max màu vàng, số seri C39X91BAKPJ15, bên trong lắp 01 thẻ sim là tài sản của anh T nên nảy sinh ý định trộm cắp, nhưng do có anh P đứng gần nên H không lấy trộm ngay. H lấy đồ cá nhân của mình xong, thì đi cùng anh P đến xưởng 104 để tiếp tục làm việc. Khi đến xưởng 104, H làm thủ tục nhận dạng khuôn mặt để vào làm việc nhưng không nhận dạng được. Lúc này, anh P tiếp tục ở lại để làm thủ tục vào xưởng làm việc, còn H bỏ đi về khu tủ để đồ công nhân xưởng 103 trộm cắp tài sản. Khoảng 10 phút sau, H đi tới khu tủ để đồ công nhân xưởng 103, thấy cánh tủ số 10 vẫn mở, xung quanh không có người; H dùng tay phải cho vào trong tủ lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max nêu trên của anh T, rồi cất giấu vào túi quần đang mặc. Sau đó, H không vào xưởng làm việc, bỏ đi khỏi Công ty, Khi đi ra bên ngoài cổng Công ty, H bật mở màn hình điện thoại trộm cắp được, thấy hiển thị hình ảnh anh Vĩ V T và yêu cầu nhập mật khẩu mớ máy. H nhập thứ mật khẩu mở máy là “999999" thì mở được mật khẩu điện thoại trộm cắp nên xóa toàn bộ dữ liệu trong điện thoại và tắt nguồn. Tiếp đó, H cầm điện thoại trộm cắp đi về phòng trọ ở tổ dân phố H, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang để ngủ. Sáng ngày 03/01/2025, H tự ý bỏ việc tại Công ty, đi xe ô tô khách về nhà ở huyện L, tỉnh Phú Thọ, trên đường đi H tháo sim trong điện thoại trộm cắp của anh T vứt đi. Sau đó, H giữ lại điện thoại trộm cắp để sử dụng.
Ngày 09/01/2025, anh Vi Việt T đến Đồn Công an Q trình báo việc bị trộm cắp 01 điện thoại di động nhân hiệu Iphone XS max để tại tủ đồ số 10 xưởng 103 Công ty F1 vào ngày 02/01/2025 nêu trên.
Ngày 14/01/2025, thấy hành vi trộm cắp tài sản đã bị phát hiện, H đã đến Đồn Công an Q đầu thú và giao nộp 01 điện thoại di động nhân hiệu Iphone XS max màu vàng, số seri C39X91BAKPJ15 trộm cắp của anh T. Sau đó, Đồn Công an Q đã bàn giao H cùng vật chứng, tài liệu có liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã V để điều tra theo thẩm quyền.
Cơ quan điều tra đã thu giữ được tại C lắp đặt ở khu để đồ công nhân xưởng 103 Công ty F1 toàn bộ hình ảnh video ghi lại việc H trộm cắp điện thoại di động của anh T vào ngày 02/01/2025 như nêu trên. Cơ quan điều tra tiến hành cho anh T nhận dạng điện thoại bị trộm cắp, trong đó có điện thoại H giao nộp khi đầu thú; kết quả anh T1 nhận ra điện thoại H giao nộp là tài sản của anh T bị trộm cắp.
Tại Kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐGTS ngày 21/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thị xã V định giá và kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max màu vàng, số seri C39X91BAKPJ15 của anh V1 Việt Thắng bị trộm cắp ngày 02/01/2025 trị giá 4.500.000 đồng, 01 phôi sim điện thoại trị giá 20.000 đồng.
Đối với anh Dương Công P không biết và không giúp sức cho H trộm cắp điện thoại di động của anh T nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Về vật chứng và trách nhiệm dân sự: H không nhớ chỗ vứt sim điện thoại trộm cắp nên Cơ quan điều tra không thu giữ được. Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại di động nêu trên cho anh T, hiện anh T không can bồi thường dân sự.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, Trần Ngọc H đã khai nhận hành vi phạm tội.
Tại Bản cáo trạng số 82/CT-VKS ngày 13/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên đã truy tố bị cáo Trần Ngọc H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo. Trước phiên tòa diễn ra ngày 13/6/2025, Hội đồng xét xử đã mở 02 phiên tòa vào các ngày 21/5/2025 và 04/6/2025 để xét xử đối với bị cáo Trần Ngọc H. Tuy nhiên H đều vắng mặt không có lý do chính đáng tại 02 phiên tòa trên. Điều đó thể hiện thái độ coi thường pháp luật của Trần Ngọc H. Do vậy, Hội đồng xét xử cần nghiêm khắc trong việc áp dụng hình phạt đối với Trần Ngọc H, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc H từ 07 tháng đến 09 tháng tù giam.
- Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo Trần Ngọc H không có tài sản riêng và thu nhập ổn định nên đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- Về vật chứng và trách nhiệm dân sự: H không nhớ chỗ vứt sim điện thoại trộm cắp nên Cơ quan điều tra không thu giữ được. Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại di động nêu trên cho anh T, hiện anh T không yêu cầu bồi thường dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí tòa án, buộc bị cáo Trần Ngọc H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo Trần Ngọc H nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng điều tra viên, kiểm sát viên, của cơ quan điều tra Công an thị xã V, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự.
[2]. Về sự vắng mặt của bị hại không có lý do nhưng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
[3] Nhận định của Hội đồng xét xử về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn khách quan, phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị cáo, của bị hại trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 20 giờ 10 phút ngày 02/01/2025, tại tủ để đồ số 10 dãy tủ để đồ công nhân xưởng 103 Công ty trách nhiệm hữu hạn F, ở Khu công nghiệp Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang; Trần Ngọc H có hành vi lén lút trộm cắp được 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs max, màu vàng, số seri C39X91BAKPJ15 trị giá 4.500.000 đồng, bên trong lắp 01 sim điện thoại (phôi sim có trị giá 20.000 đồng) là tài sản của anh Vĩ Việt T2, sinh năm 2001, trú tại thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Giang đang làm việc tại Công ty. H giữ lại điện thoại trộm cắp để sử dụng, còn sim điện thoại thì vứt đi. Sau đó, thấy hành vi phạm tội bị phát hiện, H đến Đồn Công an Q, ở thị xã V, tỉnh Bắc Giang đầu thú và giao nộp lại điện thoại di động đã trộm cắp để trả bị hại.
Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây dư luận xấu và hoang mang trong quần chúng nhân dân cũng như gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương.
[4]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã ra đầu thú, tự nguyện giao nộp lại tài sản trộm cắp nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà xử phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo cũng đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo Trần Ngọc H không có tài sản riêng và thu nhập ổn định nên đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[7]. Về vật chứng và trách nhiệm dân sự: H không nhớ chỗ vứt sim điện thoại trộm cắp nên Cơ quan điều tra không thu giữ được. Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại di động nêu trên cho anh T2, hiện anh T2 không yêu cầu bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[8]. Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
[9]. Đề nghị của đại diện viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo từ 07 đến 09 tháng tù với lý do bị cáo không có mặt tại phiên toà ngày 21/5/2025 và ngày 04/6/2025 là có căn cứ. Tuy nhiên, bị cáo có đến phiên toà vào này hôm sau và trình bày 1 lần do nhớ nhầm ngày xét xử và 1 lần đi làm ca đêm về mệt ngủ quyên. Toà án đã không ra quyết định dẫn giải bị cáo đến phiên toà cũng như không xác minh xem bị cáo có đi khởi nơi cư trú hay không nên không có căn cứ để xử phạt tù giam đối với bị cáo.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 65; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc H 07 (bẩy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách là 01 (một) năm 02 (hai) tháng, kể từ ngày xét xử sơ thẩm. Giam bị cáo cho UBND xã T và Công an xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã được hưởng án treo.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí tòa án, buộc bị cáo Trần Ngọc H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt (hoặc niêm yết) bản án.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ (Ký tên, ghi rõ họ tên) |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Trường |
Bản án số 111/2025/HS - ST ngày 13/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)
- Số bản án: 111/2025/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Ngọc Huy - Trộm cắp tài sản
