Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2025/HS-PT

Ngày: 17/11/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hà.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Minh Thu, bà Nguyễn Tuyết Mai.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Lương Mỹ Linh - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà:

Ông Đinh Văn Bình – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 155/2025/TLPTHS ngày 10 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn An Đ do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 40/2025/HSST ngày 29 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh.

Bị cáo kháng cáo: Nguyễn An Đ, sinh ngày 30/3/2009;

Nơi cư trú: thôn C, xã T, tỉnh Bắc Ninh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn phổ thông: 10/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; tổ chức đoàn thể: không; con ông Nguyễn An T, sinh năm 1981; con bà Phan Thị C, sinh năm 1982; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; vợ, con: chưa có;

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/4/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an tỉnh B. (Có mặt)

* Người đại diện của bị cáo Nguyễn An Đ và là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn An T, sinh năm 1981; bà Phan Thị C, sinh năm 1982; Nơi đăng ký thường trú: Chi Hồ, xã T, tỉnh Bắc Ninh. (bà C có mặt, ông T vắng mặt)

*Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn An Đ: Bà Nguyễn Thị Lan A – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. (có mặt)

* Đại diện Đoàn thanh niên xã T, tỉnh Bắc Ninh: Bà Đặng Thị Khánh H, sinh năm 1994 (vắng mặt).

Ngoài ra vụ án còn có những người tham gia tố tụng khác: bị cáo Nguyễn Hữu T1, Nguyễn Duy V; người bị hại không có kháng cáo, kháng nghị, không liên quan đến nội dung kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền ăn tiêu, tối ngày 20/4/2025, Nguyễn Hữu T1 nghĩ cách nói dối với Nguyễn An Đ về việc T1 mượn xe của một thanh niên tên T2 rồi cắm xe nên T1 rủ Đ đi cướp tài sản để bán lấy tiền chuộc chiếc xe trên, Đ đồng ý. Sau đó, T1 và Đ đi mua 01 con dao loại dao gọt hoa quả có chuôi màu đen dài 20cm rồi T1 đưa cho Đ cất giữ. Đ có kể với Nguyễn Duy V về việc vừa mua 01 con dao để cùng đi cướp tài sản với T1, rồi Đ rủ V đi cùng, V đồng ý.

Khoảng 19 giờ 00 ngày 21/4/2025, khi T1 đang ở quán Internet ở Ngã tư Đ, thị xã T (nay là phường T) thì T1 nhắn tin qua mạng xã hội bảo Đ đến đón để đi cướp tài sản, Đ đồng ý. Đ mang theo 01 con dao chuẩn bị từ trước, rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 99Z1 – 2669 của chị Phan Thị T3, sinh năm 1987, HKTT: thôn C, xã T, tỉnh Bắc Ninh (là dì của Đ) đi đón V rồi cùng nhau xuống quán Internet ở ngã tư Đ, phường T, tỉnh Bắc Ninh đón T1. Khi này Đ điều khiển xe chở T1 ngồi giữa, V ngồi sau cùng rồi Đ đưa dao cho T1, T1 cầm và cất giấu vào trong ống tay áo. Trên đường đi, T1 cũng nói về việc đang nợ nhiều, làm vụ cướp cứu T1 nên tất cả đồng ý.

Đến khoảng 22 giờ ngày 21/4/2025, cả nhóm đến khu T, phường K (nay là phường H), tỉnh Bắc Ninh thì phát hiện anh Tẩn Seo T4, sinh năm 2005, HKTT: thôn T, xã N, tỉnh Hà Giang và vợ là chị Xìn Thị L, sinh năm 2001, HKTT: thôn C, xã N, tỉnh Hà Giang đang đi bộ theo hướng về nút giao T. Khi đến gần vợ chồng anh T4, T1 hỏi: “Anh chị có biết đường ra khu công nghiệp Q không, chỉ cho em với”. Anh T4 chỉ đường cho T1 thì Đ điều khiển xe lên phía trước, lúc này T1 nói: “quay lại làm việc hai đứa kia đi”, Đ, V hiểu ý là sẽ cướp tài sản của anh T4 chị L. Đ điều khiển xe quay lại rồi cả ba xuống xe. T1 đứng gần anh T4 và nhờ anh T4 phát mạng 4G để T1 tra bản đồ đường đến khu công nghiệp Q. Anh T4 đồng ý rồi lấy 01 chiếc điện thoại Iphone 6S Plus màu vàng trong túi quần, cầm ở tay trái định phát wifi thì T1 đứng phía sau anh T4 lấy dao từ trong ống tay áo bằng tay phải ra rồi kề vào cổ anh T4 và nói: “Đưa điện thoại và tiền đây”. Anh T4 và chị L hét lên là “Cướp”, đồng thời anh T4 giằng dao trên tay T1 nên bị dao cứa vào phần vai trái của anh T4 01 nhát. Quá trình giằng co dao, T1 dùng dao đâm 01 nhát vào lưng anh T4, anh T4 liền đẩy T1 ra làm T1 ngã ra đường rơi dao xuống đất, còn anh T4 cũng bị rơi điện thoại xuống đất. Thấy vậy, V lao vào dùng tay trái quàng ôm lấy cổ anh T4 ghì xuống, tay phải đấm 03 phát theo hướng từ trên xuống dưới vào đầu và mặt anh T4. Cùng lúc này, Đ thấy chị L kêu “cướp” thì lao vào đấm, đạp vào người chị L làm chị L ngã ra đường. Thấy anh T4 đang ôm V, Đ nhặt con dao do T1 làm rơi rồi chém về phía anh T4 và nhặt 01 chiếc điện thoại Iphone 6S Plus ở dưới đất và chạy ra xe mô tô hô lên “Anh em ơi lên xe lấy được điện thoại rồi”. Thấy vậy, T1 và V nhảy lên xe, anh T4 đuổi theo nên V bảo Đ: “đưa dao đây nhanh”, Đ đưa dao cho V thì V cầm dao chém 01 phát ngang bụng anh T4 làm anh T4 phải lùi lại. Sau đó, Đ điều khiển xe chở T1, V đi đến khu công nghiệp Q. Đến sáng ngày 22/4/2025, cả ba đến cửa hàng điện thoại (không nhớ địa chỉ) để chạy lại phần mềm, phá khóa mật khẩu chiếc điện thoại của anh T4 rồi cùng nhau đến cửa hàng Đ2 ở phường T, tỉnh Bắc Ninh bán cho anh Nguyễn Hữu Đ1, sinh năm 1996, HKTT: khu C, phường T. Anh Đ1 kiểm tra điện thoại thấy máy không có mật khẩu, không có tài khoản Icloud nên đồng ý mua với giá 550.000 đồng. Số tiền này, cả nhóm cùng ăn tiêu cá nhân hết.

*Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường xác định:

Nơi xảy ra vụ việc là tại đoạn đường nối từ cầu vượt nút giao Khả Lễ về đường N thuộc địa phận khu phố T, phường K (nay là phường H), tỉnh Bắc Ninh. Đoạn đường nơi xảy ra sự việc rộng 10,3m được trải nhựa bằng phẳng, hai bên đường có vỉa hè lát gạch, tiếp giáp hai bên vỉa hè đường là bãi đất trống. Khu vực đoạn đường nơi xảy ra sự việc cách ngã ba giao với đường N khoảng 40m.

Lấy mép đường bên phải theo hướng đường N đi nút giao Khả Lễ làm mép phải đường, mép đường hướng ngược lại là mép trái đường. Lấy cột đèn ký hiệu 26KN nằm bên phải đường làm mốc đo đến các vị trí trên hiện trường.

Trên mặt đường, tại vị trí cách mép đường 0,4m, cách cột đèn 6,3m về hướng đi nút giao Tây Nam phát hiện 01 áo khoác đồng phục gắn phù hiệu “THPT Thuận Thành 3”, mặt trước bên phải và lưng áo rải rác bám chất màu nâu (vị trí số 1)

Tại vỉa hè đường bên phải phát hiện 01 chiếc dép bên phải, màu đen vàng, cỡ 39 có dòng chữ “KOLA”, dép cách mép đường 0,15m, cách cột đèn ký hiệu 26KN 5,4m về hướng đi ngã ba đường N, quai dép bị bật rời, trên mặt đường phát hiện 01 chiếc dép bên trái cùng loại, cùng cỡ với chiếc dép này, quai dép bị bung bật một phần, dép cách mép đường 3,8m, cách vị trí 1 là 3m (vị trí số 2)

Trên mặt đường tại vị trí đối diện cột đèn ký hiệu 26KN, phát hiện 01 đôi dép màu đen trắng kích thước (27x11)cm, chiếc gần nhất (chiếc dép phải) cách mép đường bên phải 1,7m, cách vị trí 1 là 5,4m, chiếc dép trái cách chiếc dép phải 0,5m về phía tâm đường (vị trí số 3).

Trên mặt đường tại vị trí cách mép trái đường 0,5m về phía đi nút giao Khả Lễ phát hiện 01 chiếc dép màu xanh đen, trên quai dép có chữ “Chistian dior”, trên vỉa hè đường phát hiện 01 chiếc dép màu đen, trên đế dép có chữ “ESD”, cách mép đường 2,4m, cách vị trí số 4 là 5m (vị trí số 4).

Thu giữ tại hiện trường: 01 áo khoác tại vị trí số 1, 02 chiếc dép tại vị trí số 2, 02 chiếc dép tại vị trí số 3, 02 chiếc dép tại vị trí số D

*Vật chứng thu giữ gồm:

  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu sơn đỏ, BKS 99Z1-2699 do Nguyễn An Đ giao nộp;
  • - 01 con dao dạng dao gọt hoa quả, dài 20cm, mũi nhọn, chuôi dao màu đen làm bằng nhựa thu tại vị trí dưới gối trong phòng ngủ của Đ;
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus do anh Nguyễn Hữu Đ1 giao nộp

*Về thương tích và các Kết luận giám định, định giá tài sản:

  • - Tại Giấy chứng nhận thương tích của anh T5 Seo Tiến như sau: “Sưng nề trán lệch trái kích thước 04x02cm; 01 vết thương má, đuôi mắt trái khoảng 0,7cm x 0,5cm x 0,5cm, rỉ máu; 01 vết thương sau vai trái khoảng 10cm x 0,5cm, sâu 0,5cm, mép vết thương gọn, rách da; xây sát, sưng nề hạn chế vận động gối trái kích thước 05x04cm; xây sát rải rác cơ thể.”
  • - Tại biên bản xem xét dấu vết thân thể chị Xìn Thị L: không phát hiện dấu vết tổn thương trên cơ thể.
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã ra Quyết định trưng cầu Trung tâm Pháp y - Sở Y tế tỉnh B giám định tỉ lệ phần trăm thương tích của anh Tẩn Seo T4, chị Xìn Thị L nhưng anh T4, chị L có đơn xin từ chối giám định thương tích của bản thân. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định dẫn giải nhưng anh T4 cương quyết từ chối và không đề nghị gì khác.
  • - Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 110/KL-HĐĐGTS ngày 25/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố B kết luận: Giá trị của 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus, màu vàng, 64G, máy đã qua sử dụng là 1.000.000 đồng”

*Xử lý vật chứng, đồ vật liên quan:

  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B trả lại cho anh T5 Seo Tiến 01 chiếc điện thoại Iphone 6S Plus.
  • - Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu sơn đỏ, BKS 99Z1-2699 mang tên chị Phan Thị T3: kết quả tra cứu xác định chiếc xe mô tô không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng. Chị T3 để tại nhà Đ, không biết Đ sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B trả lại cho chị T3 chiếc xe trên.
  • - Đối với 01 áo khoác, 03 đôi dép, 01 con dao là chứng cứ vụ án nên cần chuyển Phòng thi hành án dân sự khu vực 6 – Bắc Ninh để xử lý theo quy định.

*Về trách nhiệm dân sự:

Sau khi xảy ra sự việc, chị Nguyễn Thị T6 (là mẹ bị cáo V), chị Phan Thị C (là mẹ bị cáo Đ), anh Nguyễn Hữu N (là bố bị cáo T1) mỗi gia đình bồi thường tổn hại về sức khỏe, tinh thần cho anh T4, chị L số tiền 10.000.000 đồng, tổng là 30.000.000 đồng. Anh T4 và chị L đã nhận đủ số tiền, không có đề nghị gì khác.

Đối với số tiền 550.000 đồng anh Nguyễn Hữu Đ1 mua điện thoại của các bị cáo, anh Đ1 không yêu cầu các bị cáo hoàn trả lại.

Tại bản cáo trạng số 25/CT – VKSTPBN ngày 13/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu T1, Nguyễn An Đ và Nguyễn Duy V về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự.

Với nội dung trên, tại bản án hình sự sơ thẩm số: 40/2025/HS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh đã xét xử và quyết định:

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự; Điều 12, 119, 179 Luật tư pháp người chưa thành niên đối với bị cáo Nguyễn An Đ.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, 136, 329, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về lệ phí, án phí.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn An Đ phạm tội “Cướp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn An Đ 04 năm 06 tháng tù (bốn năm sáu tháng tù).

Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (24/4/2025)

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên xử phạt bị cáo T7 05 (năm) 02 (hai) tháng tù và bị cáo V 04 (bốn) năm 04 (bốn) tháng tù, tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 10/9/2025, bị cáo Đ có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo, bị cáo xác định bản án sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt vì bản án sơ thẩm xử đối với bị cáo là nặng.

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo là bà Phan Thị C có mặt tại phiên toà và trình bày: về hành vi phạm tội của bị cáo bà không có ý kiến gì, do mải làm ăn nên gia đình bà đã không quản lý con được tốt nên để xảy ra sự việc. Bị cáo còn nhỏ, thiếu hiểu biết, bà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

*Đại diện VKSND tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đề nghị HĐXX:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn An Đ, sửa bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh.

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự. Điều 12; Điều 119; Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên.

Xử phạt: Nguyễn An Đ 03(ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản”.

Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo trình bày tranh luận: về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo, Trợ giúp viên pháp lý nhất trí với đề nghị của Đại diện viện kiểm sát. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tại cấp phúc thẩm bị cáo tình tiết giảm nhẹ mới, khi phạm tội bị cáo mới 16 tuổi 20 ngày nhận thức pháp luật hạn chế, bố bị cáo là người khuyết tật, bị cáo có ông nội, ông ngoại bị cáo có Huân, huy chương; Nghị quyết số 04/2025 đã bỏ tình tiết tăng nặng tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Đề nghị hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: nhất trí với trình bày của người bào chữa, bà không có ý kiến gì.

Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận gì.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo đã được làm trong thời hạn quy định của pháp luật theo đúng quy định tại Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp. Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị hại và những tài liệu, vật chứng của vụ án có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

[3]. Do không có tiền ăn tiêu nên Nguyễn Hữu T1 đã rủ Nguyễn An Đ đi cướp tài sản. Đ đồng ý và cùng T1 chuẩn bị 01 con dao dạng dao gọt hoa quả, dài 20cm, mũi nhọn, chuôi dao màu đen làm bằng nhựa phục vụ việc cướp tài sản. Sau đó, Đ có kể chuyện và rủ Nguyễn Duy V đi cướp tài sản cùng. V đồng ý. Đến khoảng 19 giờ 00 ngày 21/4/2025, T1 nhắn tin qua mạng xã hội bảo Đ đón đi cướp tài sản. Đ đã đi lấy con dao chuẩn bị từ trước rồi sử dụng 01 xe mô tô Honda Wave S BKS 99Z1-2699 đi đón V sau đó đi đón T1. Cả ba bị cáo đi đến Khu T, phường K, thành phố B (nay thuộc phường H, tỉnh Bắc Ninh) thì gặp vợ chồng anh Tẩn Seo T4, chị Xìn Thị L. Tại đây cả ba có hành vi cầm dao đe dọa sau đó dùng vũ lực với anh Tẩn Seo T4, chị Xìn Thị L và chiếm đoạt của anh T4 01 điện thoại Iphone 6S Plus trị giá 1.000.000 đồng. Khi thực hiện hành vi trên các bị cáo đều trên 16 tuổi và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

[4]. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự. Do vậy, án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.

[5]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn An Đ, Hội đồng xét xử xét thấy:

[6]. Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến đến quyền sở hữu về tài sản mà còn xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, tạo dư luận xấu, gây bức xúc trong xã hội và hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo còn trẻ nhưng không lo học tập rèn luyện mà chỉ vì thiếu tiền đã sẵn sàng phạm tội, điều này thể hiện thái độ coi thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy, HĐXX xét thấy cần phải áp dụng mức hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[7]. Xét về nhân thân bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

[8]. Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo và thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho anh Tẩn Seo T4, chị Xìn Thị L. Bị cáo có ông bà nội ngoại tham gia tích cực vào cuộc kháng chiến bảo vệ tổ quốc Anh T4, chị L cũng có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[9]. Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bản án sơ thẩm áp dụng bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, tại khoản 14 Điều 4 Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 hướng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 và Điều 52 của Bộ luật Hình sự (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/11/2025) quy định bị cáo cần phải có đủ 02 điều kiện là “Người phạm tội là người đã thành niên” và “Người phạm tội biết rõ người bị xúi giục là người dưới 18 tuổi” để áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người chưa đủ 18 tuổi. Do đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

[10]. Xét việc áp dụng pháp luật và hình phạt đối với bị cáo: Khi phạm tội bị cáo là người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi nên cần áp dụng các quy định pháp luật đối với người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi trong Bộ luật hình sự cho bị cáo. Mặt khác, mặc dù Luật tư pháp người chưa thành niên chưa có hiệu lực pháp luật nhưng trên tinh thần có lợi cho bị cáo nên cần áp dụng quy định có lợi tại Luật tư pháp người chưa thành niên đối với bị cáo.

[11]. Bản án sơ thẩm căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xét xử bị cáo Đ với mức hình phạt 04 năm 06 tháng tù là có căn cứ và đúng pháp luật.

[12]. Tại cấp phúc thẩm, gia đình bị cáo Nguyễn An Đ xuất trình tài liệu chứng cứ mới về việc bố bị cáo là ông Nguyễn An T có giấy xác nhận là người khuyết tật, có nhiều bệnh tật, không có khả năng lao động, gia đình bị cáo ủng hộ quỹ vì người nghèo số tiền 1.000.000đồng được Mặt trận tổ quốc xã T xác nhận, bị cáo là người nhỏ tuổi nhất trong vụ án, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo mới 16 tuổi 20 ngày, bị cáo phạm tội cũng một phần do T1 rủ rê, lôi kéo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới ở cấp phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần xem xét cho bị cáo.

[13]. Gia đình bị cáo nộp số tiền 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo, không phải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điều 51 Bộ luật hình sự.

[14]. Do bị cáo có tình tiết giảm nhẹ mới ở cấp phúc thẩm, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng. Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn An Đ, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Bắc Ninh như đề nghị của Đại diện viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ.

[15]. Đối với bị cáo Nguyễn Hữu T1, khi xét xử Tòa án nhân dân khu vực 6 cũng áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Bản án sơ thẩm đã đã căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo xử phạt bị cáo mức án 05 năm 02 tháng tù là có căn cứ và phù hợp. Bị cáo không kháng cáo đối với Bản án sơ thẩm. Mặt khác, tại thời điểm Tòa án nhân dân khu vực 6 xét xử (ngày 29/8/2025) Nghị quyết số 04/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chưa ban hành (Nghị quyết ban hành ngày 30/9/2025). Do đó, để đảm bảo tính ổn định của bản án, Hội đồng xét xử không xem xét sửa bản án sơ thẩm đối với bị cáo T1.

[16]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn An Đ được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[17] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn An Đ, sửa bản án sơ thẩm số 40/2025/HSST ngày 29 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh.

2. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự. Điều 12; Điều 119; Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn An Đ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 24/4/2025.

Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn An Đ trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án phúc thẩm để đảm bảo thi hành án.

3. Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.

Bị cáo Nguyễn An Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Xác nhận bị cáo đã nộp xong 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo Biên lai số 0000447 ngày 09/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ 1 - TAND tối cao;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Trại tạm giam số 1 – CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - Phòng PC10 - CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - Văn phòng CQCSĐT-Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Viện kiểm sát nhân nhân khu vực 6- Bắc Ninh;
  • - Tòa án nhân dân KV 6 – Bắc Ninh;
  • - Phòng Thi hành án dân sự KV 6 – Bắc Ninh;
  • - Bị cáo; Đại diện hợp pháp bị cáo;
  • - Trợ giúp viên pháp lý;
  • - Lưu.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 111/2025/HS-PT ngày 17/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về hình sự (cướp tài sản)

  • Số bản án: 111/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cướp tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn An Đ, sửa bản án sơ thẩm số 40/2025/HSST ngày 29 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger