Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2025/HS-PT

Ngày: 10-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thương Huyền

Các Thẩm phán:

1/ Ông Đặng Hồng Sơn

2/ Ông Phạm Viết Hùng

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 14/2025/TLPT-HS, ngày 14/01/2025 đối với bị cáo Nguyễn Thị Trúc P do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Trúc P đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 67/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thị Trúc P; giới tính: nữ; sinh ngày 20/10/1978, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; đăng ký thường trú: không có; chỗ ở hiện nay: Nhà số E, ấp A, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 0/12 (Bị cáo biết đọc, viết); nghề nghiệp: Công nhân; Con ông (không rõ) và bà Lê Thị L (đã chết); Bị cáo chưa có chồng, con; tiền sự: không; tiền án: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/5/2024 đến nay. (Có mặt tại phiên tòa)

Trong vụ án còn có bị hại Mai Thị Hồng V và những nguời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Thị T, Nguyễn Thị N, Mai Thị Thanh T1, Nguyễn Thị Thu L1 đều không có kháng cáo và không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 15 tháng 8 năm 2023, Nguyễn Thị Trúc P xin việc tại Hộ kinh doanh thực phẩm S, địa chỉ: 274/87 N, ấp C, xã L, huyện N, do bà Mai Thị Hồng V là chủ Hộ kinh doanh. P được sắp xếp làm việc ca đêm từ 19 giờ 00 phút ngày hôm nay đến 07 giờ ngày mai tại bộ phận sơ chế thực phẩm với mức lương một tháng 8.000.000 (tám triệu) đồng. Quá trình làm việc, P biết được từ 16 giờ 30 phút đến 18 giờ 30 phút hàng ngày là thời gian đổi ca, kho lưu trữ đồ khô không có người trông coi nên P đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản gồm có dầu ăn, nước mắm, đường, bột ngọt, hạt nêm để sử dụng và bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, cụ thể như sau:

Vào khoảng cuối tháng 02/2024 và tháng 03/2024, P đến nơi làm việc, điểm danh bằng dấu vân tay rồi đi lấy chìa khóa kho lưu trữ đồ khô trong Văn phòng của Hộ kinh doanh, mở cửa kho lưu trữ đồ khô trộm cắp tài sản: Dầu ăn, nước mắm, đường, bột ngọt, hạt nêm mang cất giấu trong phòng vệ sinh - nơi chứa dụng cụ làm việc do P quản lý, có chìa khóa riêng rồi khóa cửa phòng lại và đi làm việc bình thường. Hết giờ làm, P vào lấy số tài sản đã trộm cắp được để vào túi nylon màu đen do P chuẩn bị từ trước, lấy vỏ rau, củ phủ lên trên ngụy trang rồi đặt lên Bagare phía trước xe môtô biển số 54P1-6411 mang về nhà. Thời gian này, P trộm 04 (bốn) lần, mỗi lần chỉ lấy 01 (một) sản phẩm và chỉ nhớ 02 (hai) lần đầu đã trộm được 02 (hai) chai dầu ăn Tường An Cooking Oil, thể tích 01 (một) lít mỗi chai mang về nhà sử dụng hết.

Từ khoảng tháng 04/2024 đến tháng 05/2024, P tiếp tục trộm cắp bằng phương thức tương tự như trên rồi mang đi bán cho Phạm Thị T, Nguyễn Thị N, Mai Thị Thanh T1 và Nguyễn Thị Thu L1 nhiều lần với tổng số lượng gồm: 30 túi đường sạch Cô Ba, trọng lượng 01 kí mỗi túi; 30 gói hạt nêm Aji-Ngon, trọng lượng 400g mỗi gói; 24 gói bột ngọt Ajinomoto, trọng lượng 454g mỗi gói; 16 chai dầu ăn Tường An Cooking Oil, thể tích 01 lít mỗi chai; 07 chai nước mắm N, thể tích 750ml mỗi chai và 22 chai nước mắm Nam Ngư, thể tích 500ml mỗi chai. Khi bán số tài sản trên, P nói đây là sản phẩm từ thiện người khác cho, P không sử dụng hết nên bán lại thì những người này đồng ý mua về sử dụng những không biết là tài sản do P trộm cắp mà có. Tổng số tiền Phương thu lợi bất chính từ việc bán số tài sản trộm cắp cho những người nêu trên là 3.070.000 (ba triệu không trăm bảy mươi nghìn) đồng và P đã tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 16/5/2024, P tiếp tục trộm 10 túi đường sạch Cô Ba để vào trong 02 lớp túi nylon màu đen; 05 chai dầu ăn Tường An Cooking Oil, thể tích 1 lít mỗi chai để vào trong 02 lớp túi nylon màu đen khác mang cất giấu trong phòng vệ sinh. Thời điểm này, chị V tổ chức kiểm đếm số lượng hàng hóa thì phát hiện tại kho lưu trữ đồ khô bị hao hụt nhiều sản phẩm. Nghi ngờ bị mất trộm, chị V tiến hành trích xuất camera thì phát hiện P là người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 19/5/2024 chị V đến Công an xã L, huyện N trình báo sự việc. Sau đó, vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N thụ lý theo thẩm quyền. Đến ngày 23/5/20243 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm

đi khỏi nơi cư trú đối với Nguyễn Thị Trúc P về tội “Trộm cắp tài sản”. Lời khai của Nguyễn Thị Trúc P phù hợp với lời khai người bị hại, người liên quan và vật chứng thu giữ.

Kết luận định giá tài sản số 25/KL-HĐĐGTTHS ngày 22/5/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện N, kết luận:

  • - 40 túi đường sạch Cô Ba, trọng lượng 01 kg mỗi túi, được định giá là 1.000.000 (một triệu) đồng - Đã bao gồm thuế GTGT 5%.
  • - 30 gói hạt nêm Aji-Ngon, trọng lượng 400g mỗi gói, được định giá là 734.000 (bảy trăm ba mươi bốn nghìn) đồng - Đã bao gồm thuế GTGT 8%.
  • - 24 gói bột ngọt Ajinomoto, trọng lượng 454g mỗi gói, được định giá là 762.000 (bảy trăm sáu mươi hai nghìn) đồng - Đã bao gồm thuế GTGT 8%.
  • - 25 chai dầu ăn Tường An Cooking Oil, thể tích 01 lít mỗi chai, được định giá là 1.021.000 (một triệu không trăm hai mươi mốt nghìn) đồng - Đã bao gồm thuế GTGT 8%.
  • - 22 chai nước mắm Nam Ngư, thể tích 500ml mỗi chai, được định giá là 642.000 (sáu trăm bốn mươi hai nghìn) đồng - Đã bao gồm thuế GTGT 8%.
  • - 07 chai nước mắm Nam Ngư, thể tích 750ml mỗi chai, được định giá là 294.000 (hai trăm chín mươi bốn nghìn) đồng - Đã bao gồm thuế GTGT 8%.

Hội đồng thống nhất định giá tài sản trên là 4.453.000 (bốn triệu bốn trăm năm mươi ba nghìn) đồng.

Trong quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan viết đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 67/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Trúc P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Trúc P 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Ngoài ra, Bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 25/11/2024, bị cáo có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm đã xác định và vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa đưa ra ý kiến phát biểu: Sau khi xem xét tất cả lời khai, tình tiết trong hồ sơ vụ án, nhận thấy bản án sơ thẩm đã tuyên là đúng người, đúng tội và mức án phù hợp với tính chất cũng như mức độ của hậu quả đã xảy ra. Từ đó, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo và y án sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Thị Trúc P không tranh luận với đại diện Viện Kiểm sát. Lời nói sau cùng, xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Ngày 12/11/2024, Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm, đến ngày 25/11/2024, bị cáo có đơn kháng cáo về hình phạt. Đơn kháng cáo của bị cáo được lập trong trong thời hạn luật định nên hợp lệ.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị Trúc P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đọan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm. Phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ vụ án án; từ đó có đủ cơ sở để kết luận: Từ cuối tháng 02/2024 đến ngày 16/5/2024, bị cáo Nguyễn Thị Trúc P đã nhiều lần lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bị hại là Hộ kinh doanh thực phẩm S, địa chỉ: Số B, đường N, ấp C, xã L, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh. Qua định giá, tài sản bị chiếm đoạt có tổng trị giá là 4.453.000 đồng.

Do đó, Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè đã xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét đơn kháng cáo của bị cáo:

Trong đơn kháng cáo và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Xét thấy, trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã khắc phục hậu quả bồi thường thiệt hại cho bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong

vụ án; bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn; bị hại có đơn xin bãi nại và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã xuất trình căn cước công dân thể hiện nơi cư trú của bị cáo, đủ điều kiện cho hưởng án treo. Việc cho bị cáo được hưởng án treo không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao không chấp nhận ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mà chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo là phù hợp, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.

[4] Tại phần quyết định của Bản án sơ thẩm đã ghi: “Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Trúc P phạm tội “Trộm cắp tài sản” và quyết định hình phạt là chưa đúng mẫu bản án hình sự sơ thẩm quy định tại Nghị quyết số 05/2017/NQ-HĐTP ngày 19 tháng 9 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đề nghị cấp sơ thẩm rút kinh nghiệm.

[5] Về án phí: Do chấp nhận kháng cáo của bị cáo nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Trúc P, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 67/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm b, h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017,

1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Trúc P 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thị Trúc P cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Bị cáo Nguyễn Thị Trúc P phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, bị cáo Nguyễn Thị Trúc P cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường

hợp phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trường hợp bị cáo Nguyễn Thị Trúc P thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các nội dung khác của Bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

(Chủ tọa phiên tòa đã giải thích chế định án treo).

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao; (1)
  • - TAND cấp cao tại Tp.HCM; (1)
  • - VKSND cấp cao tại Tp.HCM; (1)
  • - TAND huyện Nhà Bè; (1)
  • - VKSND Tp.HCM; (3)
  • - VKSND huyện Nhà Bè; (1)
  • - P.PV06 - CA TP.HCM; (1)
  • - Chi cục THA huyện Nhà Bè; (1)
  • - Bị cáo; (1)
  • - Công an huyện Nhà Bè; (1)
  • - Sở Tư pháp; (1)
  • - Lưu: VT, THS, hồ sơ. (20) (6)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thương Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 111/2025/HS-PT ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 111/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Trúc P phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger