Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2025/HNGĐ-ST

Ngày 30-6-2025

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thắm.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Ngọc .
  2. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ.

- Thư ký phiên tòa: bà Phạm Việt Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa:

bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 124/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2025, về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Khương Thị N, sinh năm 1990; thường trú: thôn P, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; tạm trú: Số A, Đường A, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: anh Bùi Văn T, sinh năm 1981; thường trú: Thôn P, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; tạm trú: Số A, Đường A, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn chị Khương Thị N có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, nhưng theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 10 tháng 3 năm 2025, lời khai trong quá trình tố tụng, chị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh Bùi Văn T tự nguyện yêu nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận kết hôn số 22/2013 ngày 04/6/2013. Hôn nhân của chị N và anh T là tự nguyện, có sự chấp thuận của gia đình hai bên.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chúng chị N chung sống hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống. Anh T1 còn có tính vũ phu, đánh đập chửi bới chị N trước mặt con nhỏ. Anh T1 không chăm lo cho cuộc sống gia đình, cuộc sống hôn nhân ngày càng ngột ngạt, không hạnh phúc, vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị N xác định tình cảm giữa chị N và anh Bùi Văn T không còn nên chị N yêu cầu được ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Bùi Thị Quỳnh N1, sinh ngày 21/4/2012. Chị N giao cháu Bùi Văn T2, sinh ngày 27/11/2016 cho anh Bùi Văn T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị N không yêu cầu anh Bùi Văn T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về phía bị đơn anh Bùi Văn T:

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã giao thông báo thụ lý vụ án và yêu cầu anh Bùi Văn T có ý kiến trả lời bằng văn bản đối với các yêu cầu của chị Khương Thị N nhưng anh T không có ý kiến gì. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Bùi Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 19/5/2025 nhưng anh T vắng mặt không có lý do; đồng thời cũng không có ý kiến và không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ gì thể hiện việc đồng ý hay không đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của chị N.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa:

+ Về tố tụng:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã được thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

+ Ý kiến về việc giải quyết án:

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Khương Thị N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An nhận định:

[1] Về việc vắng mặt của đương sự: nguyên đơn chị Khương Thị N có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn anh Bùi Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ theo Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt chị N và anh T.

[2] Về quan hệ hôn nhân: chị Khương Thị N và anh Bùi Văn T có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận kết hôn số 22/20113 ngày 04/6/2013 nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo biên bản xác minh về tình trạng hôn nhân tại UBND phường D ngày 25/4/2025 thể hiện: mâu thuẫn của chị N và anh T chính quyền địa phương không rõ, đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định pháp luật để xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chị Khương Thị N xác định vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, không thể tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân được nữa và có đơn đề nghị Tòa án không hòa giải đoàn tụ. Anh Bùi Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, tuy nhiên anh T không có ý kiến gì về việc giải quyết vụ án và cũng không lên tòa làm việc, anh T đã bỏ mặc quan hệ hôn nhân với chị N khi đang đứng trên bờ vực tan vỡ, không có thiện chí hòa giải. Điều này cho thấy, mâu thuẫn của chị N và anh T đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, chị N yêu cầu ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định của Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung và việc cấp dưỡng: Qúa trình chung sống chị N và anh T có 02 con chung tên cháu Bùi Thị Quỳnh N1, sinh ngày 21/4/2012 và Bùi Văn T2, sinh ngày 27/11/2016. Chị Khương Thị N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Bùi Thị Quỳnh N1, sinh ngày 21/4/2012. Trong thời gian trước đây cũng như hiện tại cháu N1 được chị N chăm sóc, quá trình nuôi dưỡng con chung vẫn đảm bảo phát triển tốt về mọi mặt, cháu N1 cũng mong muốn sống chung với chị N.Chị N không yêu cầu anh T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu N1. Đối với cháu Bùi Văn T2, sinh ngày 27/11/2016 hiện đang sống cùng anh T, chị N đồng ý giao cháu T2 cho anh T nuôi dưỡng, cháu Bùi Văn T2 cũng có nguyện vọng muốn được sống chung với anh T. Vì vậy, căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình có cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị Khương Thị N về việc nuôi dưỡng con chung.

[4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: chị Khương Thị N không yêu cầu Toà án giải quyết.

[5] Ý kiến của Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Tòa án nên chấp nhận.

[6] Án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn: chị Khương Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, các Điều 228, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Khương Thị N đối với anh Bùi Văn T về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con.

  1. Về quan hệ hôn nhân: chị Khương Thị N được ly hôn với anh Bùi Văn T (Giấy chứng nhận kết hôn số 22/2013 do UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 04 tháng 6 năm 2013).
  2. Về con chung: Anh Bùi Văn T giao con chung là cháu Bùi Thị Quỳnh N1, sinh ngày 21/4/2012 cho chị Khương Thị N chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Khương Thị N giao con chung là cháu Bùi Văn T2, sinh ngày 27/11/2016 cho anh Bùi Văn T chăm sóc, nuôi dưỡng. Không ai phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

    Sau ly hôn, chị Khương Thị N và anh Bùi Văn T đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng.

  3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: chị Khương Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí: chị Khương Thị N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ hết vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007990 ngày 28 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND thành phố Dĩ An;
  • - Chi cục THADS thành phố Dĩ An;
  • - UBND xã Định Bình, huyện Yên Định,
  • tỉnh Thanh Hóa;
  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - Lưu: VP, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thắm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 111/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 111/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị Khương Thị N trnanh chấp ly hôn nuôi con với anh Bùi Văn T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger