Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRỰC NINH

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 26-06-2025

V/v: “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Trung Kiên.
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Phạm Hồng Thái.
    2. Ông Nguyễn Văn Chuyết.
  • - Thư ký phiên toà: Ông Đào Đức Tài - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 21/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 04 năm 2025, Quyết định hoãn phiên toà số: 22/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 04 năm 2025 và Thông báo mở lại phiên tòa số: 178/TB-TA ngày 18 tháng 06 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Anh Phạm Văn H, sinh năm 1987; Căn cước công dân số: [...] do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 08/05/2021; Nơi cư trú: Thôn A, L, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • - Bị đơn: Chị Đoàn Thị Kim T, sinh ngày 08/03/1990; Căn cước công dân số: [...] do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 13/04/2021; Nơi cư trú: Ấp K, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai, nguyên đơn anh Phạm Văn H trình bày:

Anh và chị Đoàn Thị Kim T tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn ngày 30/10/2006 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà bố mẹ đẻ anh tại Đội 14 (nay là Thôn A, L), xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Đến tháng 05/2012, chị T đưa con nhỏ vào quê ở tỉnh Trà Vinh chơi và ở lại không về. Đầu năm 2013 anh vào tỉnh Bình Dương nơi chị T làm việc để đón hai mẹ con về nhà nhưng chị T không đồng ý về nên anh đã đón con về quê ở xã T, huyện T ở. Năm 2017, chị T có gọi điện cho mẹ đẻ anh một lần để hỏi thăm con nhưng sau đó anh gọi lại thì không liên lạc được với chị T, chị T cũng thay đổi số điện thoại nên anh không liên lạc được, chị T cũng không liên lạc với anh. Anh phải nuôi dưỡng hai con một mình từ đó đến nay. Nay anh xác định vợ chồng không thể đoàn tụ được nên anh xin được ly hôn với chị T.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Phạm Minh N, sinh ngày 09/07/2008 và Phạm Thanh T1, sinh ngày 26/07/2010; hiện hai con đang ở với anh H. Khi ly hôn, anh nhận nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu chị T cấp dưỡng tiền nuôi con. Hiện tại anh đang làm công nhân tại Công ty G ở xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; có mức lương là 7.500.000 đồng/tháng.

Về tài sản, công nợ: Vợ chồng không có tài sản, nợ chung nên anh không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 18/06/2025, bị đơn chị Đoàn Thị Kim T trình bày:

Chị và anh Phạm Văn H tìm hiểu tự nguyện và đăng ký kết hôn ngày 30/10/2006 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống ở nhà bố mẹ chồng tại xã T. Tháng 05/2012 chị đưa con gái nhỏ vào quê chị ở tỉnh Trà Vinh thăm gia đình. Do bố chị ở một mình tuổi cao sức yếu nên chị muốn ở lại chăm sóc bố. Năm 2013, anh H vào tìm mẹ con chị về Bắc ở nhưng chị không muốn đi, anh H đã đón con về quê. Từ đó chị chỉ thi thoảng gọi điện về hỏi thăm con. Mấy năm gần đây chị đi làm tại tỉnh Bình Dương và thay số điện thoại không liên lạc với anh H nữa. Đến nay chị được người quen thông báo anh H đã làm đơn xin ly hôn chị đến Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định thì chị cũng đồng ý ly hôn với anh H và đồng ý giải quyết việc ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh.

Khi kết hôn với anh H thì chị chưa đủ tuổi nên đã khai sinh là ngày 08/03/1987 mục đích để cho đủ tuổi đăng ký kết hôn và đăng ký hộ khẩu thường trú cùng gia đình chồng tại Đội 14, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Khi trở về quê, chị đăng ký khai sinh lại cho đúng ngày sinh là 08/03/1990 và đăng ký hộ khẩu thường trú tại Ấp K, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh nhưng không thông báo việc thay đổi năm sinh và nơi cư trú cho anh H biết.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Phạm Minh N, sinh ngày 09/07/2008 và Phạm Thanh T1, sinh ngày 26/07/2010; hiện hai con đang ở với anh H. Anh H nhận nuôi hai con và không yêu cầu chị cấp dưỡng nuôi con thì chị cũng đồng ý. Hiện nay chị đang làm công nhân tại tỉnh Bình Dương, công việc và chỗ ở không thuận tiện cho việc nuôi con nên chị sẽ chu cấp cho con sau.

Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng không có nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do chị ở xa, việc đi lại khó khăn nên chị xin được xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh tại phiên toà phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và tại phiên toà của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự, Nguyên đơn và Bị đơn đã chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đều xin xét xử vắng mặt nên Toà án xét xử vắng mặt tất cả các đương sự là đúng quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Văn H, xử cho ly hôn giữa anh Phạm Văn H và chị Đoàn Thị Kim T. Về con chung: Giao cho anh Phạm Văn H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung là Phạm Minh N, sinh ngày 09/07/2008 và Phạm Thanh T1, sinh ngày 26/07/2010. Chấp nhận sự tự nguyện của anh Phạm Văn H không yêu cầu chị Đoàn Thị Kim T cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội tuyên nghĩa vụ nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà vắng mặt tất cả các đương sự nhưng nguyên đơn và bị đơn đều đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Văn H và chị Đoàn Thị Kim T tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn ngày 30/10/2006 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Nam Định nên anh H và chị T có quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo lời trình bày thống nhất của các đương sự thì anh H và chị T đã xảy ra mâu thuẫn bất đồng quan điểm sống từ khoảng năm 2012 - 2013, nguyên nhân là do chị T về quê ở tỉnh Trà Vinh thăm gia đình sau đó không đồng ý quay về tỉnh Nam Định chung sống với anh H nữa. Từ năm 2017 đến nay anh H và chị T không liên lạc với nhau, không biết thông tin về nhau. Đến nay anh H xin ly hôn, chị T cũng đồng ý. Xét thấy, anh H và chị T đã sống ly thân nhiều năm nay, không còn quan tâm, chăm sóc đến nhau; không còn tình nghĩa vợ chồng. Do đó cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh H, cho ly hôn giữa anh H và chị T là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về việc nuôi con chung: Anh Phạm Văn H và chị Đoàn Thị Kim T thống nhất vợ chồng có 02 con chung là Phạm Minh N, sinh ngày 09/07/2008 và Phạm Thanh T1, sinh ngày 26/07/2010; hiện nay hai con đang ở với anh H. Xét thấy anh H có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con, chị T cũng nhất trí. Anh H cũng có công việc và thu nhập ổn định, có chỗ ở nhờ nhà bố mẹ đẻ hỗ trợ chăm sóc các con hàng ngày; các con đều có nguyện vọng được ở với anh H. Do đó cần giao cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung là phù hợp quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình. Hiện nay 02 con đang ở cùng với anh H nên chị T không phải thực hiện nghĩa vụ giao con cho anh H nuôi dưỡng. Anh H tự nguyện không yêu cầu chị T cấp dưỡng tiền nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận không xem xét.

[4] Về tài sản, công nợ: Anh H và chị T thống nhất, vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung và đều không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.

[5] Về án phí: Nguyên đơn anh Phạm Văn H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Xử cho ly hôn giữa anh Phạm Văn H và chị Đoàn Thị Kim T.
  2. Về việc nuôi con chung:

    Giao cho anh Phạm Văn H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung là Phạm Minh N, sinh ngày 09/07/2008 và Phạm Thanh T1, sinh ngày 26/07/2010. (Hiện tại cháu N và cháu T1 đang ở với anh H).

    Chấp nhận sự tự nguyện của anh Phạm Văn H không yêu cầu chị Đoàn Thị Kim T cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

    Chị Đoàn Thị Kim T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

  3. Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Phạm Văn H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) anh H đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0004218 ngày 21/02/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Anh Phạm Văn H đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn anh Phạm Văn H và bị đơn chị Đoàn Thị Kim T vắng mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND + VKSND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND huyện Trực Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Trực Ninh;
  • - UBND xã Trực Khang, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định;
  • - UBND xã Phong Phú, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Trung Kiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 111/2025/HNGĐ-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

  • Số bản án: 111/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn giữa anh H và chị T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger