|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG Bản án số: 111/2025/HNGĐ-ST Ngày: 18-6-2025 Về việc T/c “Ly hôn, nuôi con chung” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vương Thị Hồng Nhớ.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung, ông Nguyễn Thành Phước.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn không tham gia phiên tòa.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 109/2025/TLST-HNGD ngày 19 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn, nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13/5/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 68/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28/5/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1982, cư trú: tổ A, ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. (Có đơn xin vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Bùi Hữu N, sinh năm 1979, cư trú: tổ A, ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai nguyên đơn bà Nguyễn Thị M trình bày: Bà và ông N quen biết, tự tìm hiểu rồi chung sống với nhau từ năm 1999, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện T, tỉnh An Giang vào năm 2009. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc và có với nhau 02 con chung. Đến năm 2010 giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nhưng cả hai lại không có tiếng nói chung, từ thời gian đó đến nay vợ chồng đã sống ly thân. Thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị M yêu cầu ly hôn ông Bùi Hữu N.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Bùi Hoàng Như S, sinh năm 2000 và Bùi Thị Ngọc M1, sinh năm 2008. Các con đã trưởng thành, các con được quyền lựa chọn ở với cha hoặc mẹ, bà đều đồng ý.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Bùi Hữu N đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý, triệu tập các lần hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa theo đúng quy định pháp luật nhưng ông vẫn không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M.
Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt.
Hội đồng xét xử đã công bố bản tự khai của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn Bùi Hữu N, sinh năm 1979, cư trú tại tổ A, ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. Nguyên đơn khởi kiện ly hôn, nuôi con chung thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Bùi Hữu N Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông N vẫn vắng mặt tại phiên toà. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án xét xử vắng mặt nguyên đơn và ông N theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung, xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Nguyên đơn Nguyễn Thị M và bị đơn ông Bùi Hữu N quen biết, tự tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 57 ngày 31/8/2009 nên được xem là hôn nhân hợp pháp.
Lời khai của nguyên đơn thừa nhận về tình cảm của vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn mà cả hai lại không có biện pháp nào để hàn gắn được mối quan hệ này và vợ chồng cũng đã sống ly thân một thời gian dài từ năm 2010, trong thời gian này mỗi người đều có cuộc sống riêng, không ai quan tâm ai. Do đó, bà M yêu cầu ly hôn ông Nghĩa L có căn cứ. Hội đồng xét xử xét thấy, mục đích hôn nhân giữa bà M và ông N không đạt được nên chấp nhận yêu cầu được ly hôn của bà M đối với ông N theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về con chung: Bà M và ông N có 02 con chung tên Bùi Hoàng Như S, sinh năm 2000 và Bùi Thị Ngọc M1, sinh năm 2008.
Hiện nay cháu Bùi Hoàng Như S đã trưởng thành và có cuộc sống riêng, còn cháu Bùi Thị Ngọc M1 có văn bản trình bày ý kiến nguyện vọng muốn được sống với bà M và bà M cũng có văn bản thống nhất theo ý kiến của con.
Theo khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.
Trong quá trình giải quyết mặc dù đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập của Tòa án mời làm việc, mời Hòa giải nhưng ông N vẫn không có văn bản ý kiến gửi đến Tòa án về yêu cầu khởi kiện của bà M cũng như có ý kiến về việc nuôi con chung. Do đó, căn cứ vào lời khai và tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, HĐXX thấy: Cháu M1 trình bày từ trước đến nay cháu đều sống với mẹ, khi cha mẹ ly hôn thì cháu vẫn có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng mẹ để ổn định cuộc sống và việc học tập. Bà M cũng có văn bản thống nhất theo ý kiến của cháu M1. Do vậy, HĐXX chấp nhận giao cháu Bùi Thị Ngọc M1 cho bà M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Bà M không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Bà M cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông N trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con. Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, của cơ quan có thẩm quyền thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M.
1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị M được ly hôn với ông Bùi Hữu N.
2. Về con chung: Bà M và ông N có 02 con chung tên Bùi Hoàng Như S, sinh năm 2000 và Bùi Thị Ngọc M1, sinh năm 2008. Hiện cháu Như S đã trưởng thành, có cuộc sống riêng. Bà M không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.
- Giao cháu Bùi Thị Ngọc M1 cho bà Nguyễn Thị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ông Bùi Hữu N không phải cấp dưỡng nuôi con do bà M không yêu cầu.
- Bà Nguyễn Thị M cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông N trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con. Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, của cơ quan có thẩm quyền thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
3. Về nợ chung, tài sản chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0021785 ngày 19/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn. (Đã nộp xong)
5. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị M và ông Bùi Hữu N được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án, hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vương Thị Hồng Nhớ |
5
| HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nguyễn Thị Hồng N1 - Nguyễn Thành Phước V
Bản án số 111/2025/HNGĐ-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 111/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NĐ yêu cầu ly hôn và tranh chấp nuôi con chung
