|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 111/2025/DS-ST Ngày: 27 - 6 - 2025 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mai
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Ngọc Vân và bà Nguyễn Thị Bạn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Ông Y Khang Ê Ban - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Vào ngày 28 tháng 5 năm 2025 và ngày 27 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 931/2024/TLST-DS ngày 18/11/2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2025/QĐXX-DSST ngày 23 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP P2 (viết tắt Ngân hàng)
- Trụ sở chính: 41 (Tầng trệt, lửng, 1, 2 của Tòa nhà) và 45 đường L, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Văn B – Chức vụ: Giám đốc P3
- Địa chỉ: D L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
- Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Trần Phi T – Chức vụ: Chuyên viên XLN.
- Địa chỉ: D L, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Có mặt).
Bị đơn: Ông Quách Ngọc T1, sinh năm 1986.
- Địa chỉ: Thôn H, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).
- Đại diện theo ủy quyền của ông T1: Ông Đoàn Quang H
- Địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Hữu Q.
Địa chỉ: 1 đường A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng TMCP P2 (O) với ông Quách Ngọc T1 đã thỏa thuận ký kết Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ để vay vốn tại OCB chi tiết như sau: Hợp đồng tín dụng số 0062/2023/HĐTD-OCB-CN ngày 03/03/2023 và Khế ước nhận nợ Số 0062/2023/KUNN-OCB-CN ngày 03/03/2023:
- + Số tiền vay: 500.000.000 (Bằng chữ: Năm trăm triệu đồng);
- + Mục đích vay: Bổ sung vốn đầu tư sản xuất, trồng và chăm sóc cây nông nghiệp cà phê, hồ tiêu;
- + Thời hạn vay: 60 tháng;
- + Lãi suất vay: 12,8%/năm, lãi suất có điều chỉnh (theo khế ước nhận nợ số 0062/2023/KUNN-OCB-CN ngày 03/03/2023);
- + Lãi suất quá hạn: Bằng 150 % lãi suất vay trong hạn.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 16, tờ bản đồ số 44 tại xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 123796, số vào số cấp GCN: CS12347 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 22/10/2021. Tài sản bảo đảm đã được công chứng thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 0062/2023/BĐ ngày 03/03/2023 tại Văn phòng C, số công chứng 01702, đã được đăng ký thế chấp theo quy định của pháp luật. Bên vay phải trả cho Ngân hàng TMCP P2 lãi vay và nợ gốc theo phương thức cụ thể như sau:
- + Trả nợ lãi: Bên vay trả tiền lãi vay cho Ngân hàng TMCP P2 định kỳ 06 tháng/lần vào ngày 05 của tháng theo dư nợ thực tế, kỳ trả lãi đầu tiên vào ngày 05/09/2023.
- + Trả nợ gốc: Bên vay trả nợ gốc cho Ngân hàng TMCP P2 tháng/lần; Chi tiết số tiền trả, ngày trả:
- Ngày 05/3/2024: Trả 100.000.000 đồng
- Ngày 05/3/2025: Trả 100.000.000 đồng
- Ngày 05/3/2026: Trả 100.000.000 đồng
- Ngày 05/3/2027: Trả 100.000.000 đồng
- Ngày 03/3/2028: Trả 100.000.000 đồng
Quá trình trả nợ ông Quách Ngọc T1 đã trả được như sau:
- + Ngày 26/09/2023 trả: 35.327.484 đồng (ngân hàng thu vào lãi);
- + Ngày 05/03/2024 trả: 72.550 đồng (ngân hàng thu vào lãi);
- + Ngày 27/03/2024 trả: 01 đồng (ngân hàng thu vào gốc).
Theo ký kết Hợp đồng và Khế ước nhận nợ thì đến ngày 05/3/2024 ông T1 phải thanh toán cho Ngân hàng 100.000.000 đồng tiền gốc và lãi phát sinh. Tuy nhiên, tính đến ngày 27/3/2024 ông T1 mới trả cho Ngân hàng tổng số tiền: 01 đồng tiền gốc và 35.440.034 đồng tiền lãi. Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nợ đến hạn thanh toán nhưng đến nay ông Quách Ngọc T1 vẫn không thanh toán nợ vay cho Ngân hàng.
Vì vậy, Ông Quách Ngọc T1 đã vi phạm cam kết, nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận tại Điều 5 Hợp đồng tín dụng mà ông T1 đã cam kết với Ngân hàng. Vì vậy, Ngân hàng TMCP P2 khởi kiện yêu cầu ông Quách Ngọc T1 trả cho Ngân hàng TMCP P2 tổng số nợ của hợp đồng tín dụng số 0062/2023/HĐTD-OCB-CN ngày 03/03/2023 tạm tính đến ngày 27/6/2025 là 631.472.134 đồng, trong đó: nợ gốc là 499.999.999 đồng, nợ lãi là 131.472.135 đồng và tiền lãi, phí phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết từ ngày 28/6/2025 cho đến khi ông Quách Ngọc T1 hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng TMCP P2. Thanh toán một lần toàn bộ số tiền ngay sau khi có Quyết định/Bản án của tòa án có hiệu lực pháp luật.
Trong trường hợp ông Quách Ngọc T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP P2 được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế kể cả việc kê biên, phát mãi, xử lý tài sản bảo đảm đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số 0062/2023/BĐ gày 03/03/2023 để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho ngân hàng TMCP P2 theo quy định của pháp luật. Chi tiết tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với dất thuộc thửa đất số 16, tờ bản đồ số 44 tại xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 123796, sô vào sổ cấp GCN: CS12347 do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 22/10/2021. Việc ông T1 trình bày đứng tên tài sản thế chấp và vay tiền dùm cho bà G là không đúng. Hợp đồng tín dụng và ông T1 kí và nhận tiền và tài sản thế chấp đứng tên của ông T1 theo quy định của pháp luật. Về án phí và chi phí tố tụng đề nghị Tòa án xử lý theo quy định của pháp luật còn Ngân hàng không chịu.
2. Đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Quách Ngọc T1 trình bày:
Qua lời trình bày của Ngân hàng về hợp đồng tín dụng nêu trên thì ông T1 có ý kiến: Ngày 03/03/2023 Ngân hàng TMCP P2 với ông Quách Ngọc T1 đã thỏa thuận ký kết Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ để vay vốn như sau: Hợp đồng tín dụng số 0062/2023/HĐTD-OCB-CN ngày 03/03/2023 và Khế ước nhận nợ Số 0062/2023/KUNN-OCB-CN ngày 03/03/2023: Số tiền vay: 500.000.000 (Bằng chữ: Năm trăm triệu đồng); Thời hạn vay: 60 tháng; Về Lãi suất, quy trình trả nợ như Ngân hàng trình bày là đúng. Tài sản bảo đảm cho khoản vay: Quyền sử dụng ddất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 16, tờ bản đồ số 44 tại xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 123796, số vào số cấp GCN: CS12347 do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 22/10/2021. Tài sản bảo đảm đã được công chứng thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 0062/2023/BĐ ngày 03/03/2023 tại Văn phòng C, số công chứng 01702, đã được đăng ký thế chấp theo quy định của pháp luật.
Quá trình trả nợ ông Quách Ngọc T1 đã trả được như sau: Ngày 26/09/2023 trả: 35.327.484 đồng (ngân hàng thu vào lãi); Ngày 05/03/2024 trả: 72.550 đồng (ngân hàng thu vào lãi); Ngày 27/03/2024 trả: 01 đồng (ngân hàng thu vào gốc).
Thực tế nội dung vay tiền và thế chấp tài sản là vì quen biết ông Nguyễn Hữu Q giới thiệu chị Dương Thị G nên chị G có nhờ ông T1 đứng tên trong Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất để vay tiền, vì chị G bị nợ xấu nên không vay tiền được. Tuy nhiên vì cả nể ông Q là chỗ quen biết nên ông T1 đồng ý. Vì vậy, chị G yêu cầu ông T1 ký các Hợp đồng chuyển nhượng Quyền sử dụng đất rồi tự đi công chứng, tự đăng ký biến động và giữ luôn các Giấy Chứng nhận Quyền sử dụng đất. Sau khi có các Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, chị Dương Thị G "móc nối" với các cán bộ tín dụng của Ngân hàng để vay tiền. Cụ thể, chị G kết hợp với Ngân hàng Thương mại cổ phần P2 để ký Hợp đồng tín dụng số: 0026/2023/HĐTD - OCB - CN và Khế ước số: 0062/2023/KUNN - OCB - CN để vay 500.000.000 đồng; thời hạn vay 60 tháng. Tài sản bảo đảm cho khoản vay là Thửa đất số: 16, tờ bản đồ số: 44 tại xã C, huyện C đứng tên của ông T1. Chị G cũng yêu cầu ông T1 rút 500.000.000 đồng để đưa cho chị G. Đến hạn trả nợ, ngân hàng yêu cầu ông T1 trả nợ đã nhiều lần ông T1 yêu cầu chị G trả nợ nhưng chị G không trả mà chỉ trả được số nợ lãi trên và chặn mọi liên hệ với ông T1. Ngân hàng đã khởi kiện yêu cầu ông T1 trả nợ nếu không trả được nợ thì đề nghị xử lý tài sản đảm bảo. Thực tế, tài sản đảm bảo này không phải là tài sản của ông T1. Hiện nay, ngân hàng khởi kiện buộc ông T1 trả nợ thì cũng đồng ý trả nợ nêu trên cho ngân hàng.
Về tài sản thế chấp: Ông T1 đồng ý giao tài sản đã thế chấp cho Ngân hàng TMCP P2 được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi, xử lý tài sản bảo đảm đã thế chấp để thu hồi toàn bộ khoản nợ trên cho ngân hàng TMCP P2 và ông T1 không liên quan đến khoản nợ này nữa. Ông T1 có đề nghị Tòa án đưa bà Dương Thị G; Huỳnh Thị Thu H1; Hồ Công P và Trần Duy P1; ông Nguyễn Hữu Q tham gia tố tụng nhưng ông T1 đồng ý giao tài sản đã thế chấp cho Ngân hàng phát mãi để thu hồi nợ nên không yêu cầu triệu tập những người trên tham gia tố tụng.
Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của ông T1 trình bày:
Về nghĩa vụ trả nợ thì ông T1 đồng ý, còn tài sản thế chấp thì ông T1 đồng ý giao tài sản đã thế chấp cho Ngân hàng TMCP P2 được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi, xử lý tài sản bảo đảm đã thế chấp để thu hồi toàn bộ khoản nợ trên cho ngân hàng.
Về án phí: Ông T1 đề nghị Ngân hàng chịu ½ án phí còn ông T1 chịu ½ án phí;
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ngân hàng phải chịu chứ ông T1 không chịu.
Ông T1 đồng ý với ý kiến của đại diện theo ủy quyền và không bổ sung gì thêm.
3. Trong quá trình tham gia tố tụng ông Nguyễn Hữu Q trình bày:
Trước đây khoảng 4, 5 năm tôi và ông Quách Ngọc T1 có mối quan hệ bạn bè quen biết, ông T1 có đi phụ hồ cho tôi. Tôi cũng có quen biết xã giao với bà N và bà N1 (họ tên, địa chỉ cụ thể của hai người này tôi không biết). Sau khi trao đổi với ông Quách Ngọc T1 thì tôi xác định bà N1 có tên gọi khác là bà G (tôi cũng không biết họ tên, địa chỉ cụ thể hiện nay của bà G như thế nào). Hiện nay tôi cũng không liên lạc gì với bà G.Trong quá trình quen biết, khoảng 2, 3 năm trước, khi ngồi uống nước với bà N, bà N1 thì bà N1 có nói chuyện bà N1 đang nợ xấu, không vay được Ngân hàng. Bà N1 có nói với tôi là tôi có ai quen biết đứng tên vay dùm ngân hàng cho bà N1 không? thì tôi có nói để tôi xem đứa em (tức là ông Quách Ngọc T1) có giúp bà N1 đứng ra vay dùm được không? Sau đó tôi có gọi ông T1 ra ngồi uống nước cùng. Khi đó, ông T1, bà N và bà N1 trực tiếp trao đổi với nhau như thế nào tôi không biết.
Sau đó các bên thỏa thuận sang nhượng đất, đứng tên dùm hay vay tiền với Ngân hàng N2 thì tôi cũng không biết. Tôi có nghe nói ông T1 vay Ngân hàng nhưng số tiền bao nhiêu, cụ thể ai là người đứng tên phía bên vay tôi cũng không biết và tôi cũng không đến Ngân hàng. Đất thế chấp cho Ngân hàng ở đâu tôi cũng không biết, việc các bên thỏa thuận sang nhượng đất như thế nào tôi cũng không biết. Mấy ngày sau (tôi không nhớ thời gian cụ thể), tại quán cà phê tôi có chứng kiến ông T1 đưa tiền cho bà G (tức là N1), cụ thể bao nhiêu tiền thì tôi không biết. Đối với số tiền ông T1 vay Ngân hàng thì tôi không có liên quan, cũng không được ăn chia hay có quyền lợi gì trong số tiền này. Vì vậy, tôi đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật, tôi không có liên quan. Xét thấy tôi không có liên quan gì trong việc tranh chấp này, nên tôi xin từ chối tham gia tố tụng và xin xét xử vắng mặt.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- - Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến nay Hội đồng xét xử, thẩm phán, thư ký và đương sự đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng: Buộc ông Quách Ngọc T1 phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 499.999.999đồng và lãi suất và tiếp tục chịu lãi suất từ ngày 28/6/2025 cho đến khi xong nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng;
- Về tài sản thế chấp: Trường hợp ông Quách Ngọc T1 không trả nợ thì Ngân hàng TMCP P2 được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi, xử lý tài sản bảo đảm đã thế chấp để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho ngân hàng TMCP P2 theo quy định của pháp luật là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 16, tờ bản đồ số 44 tại xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 123796, do Sở Tài nguyên và môi trường Tỉnh Đ cấp ngày 22/10/2021; Về án phí và chi phí tố tụng đương sự chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định.
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện buộc bị đơn phải trả tiền theo hợp đồng tín dụng đã được ký kết nên xác định đây là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương Mại Cổ phần P2, xét thấy:
[2.1]. Căn cứ lời khai của các bên đương sự và Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 0062/2023/HĐTD-OCB-CN ngày 03/03/2023 và Khế ước nhận nợ Số 0062/2023/KUNN-OCB-CN ngày 03/03/2023 giữa bên cho vay Ngân hàng Thương Mại Cổ phần P2- Chi nhánh Đ- Phòng G1 và bên vay là ông Quách Ngọc T1, thể hiện:
Ngân hàng Thương Mại Cổ phần P2- Chi nhánh Đ- Phòng G1 có cho ông Quách Ngọc T1 vay số tiền cho vay là: 500.000.000 (Bằng chữ: Năm trăm triệu đồng); Mục đích vay: Bổ sung vốn đầu tư sản xuất, trồng và chăm sóc cây nông nghiệp cà phê, hồ tiêu; Thời hạn vay: 60 tháng; Lãi suất vay: 12,8%/năm, lãi suất có điều chỉnh (theo khế ước nhận nợ số 0062/2023/KUNN-OCB-CN ngày 03/03/2023); Lãi suất quá hạn bằng 150 % lãi suất vay trong hạn.
Phân kỳ trả nợ vay: Trả nợ lãi: Trả tiền lãi vay cho Ngân hàng Đ1 tháng/lần vào ngày 05 của tháng theo dư nợ thực tế, kỳ trả lãi đầu tiên vào ngày 05/09/2023. Phân kỳ trả nợ gốc: Định kỳ 12 tháng/lần.
Theo Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ thì đến ngày 05/3/2024 ông T1 phải trả 100.000.000 đồng tiền gốc cho Ngân hàng. Tuy nhiên, đến ngày 27/3/2024 ông T1 mới trả cho Ngân hàng số tiền: 01 đồng tiền gốc; Đối với tiền lãi thì ngày 03/9/2023 trả tiền lãi nhưng đến ngày 26/09/2023, ông T1 mới trả 35.440.034 đồng tiền lãi. Như vậy, ông T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ ngay từ kỳ thứ nhất của bên vay tại Điều 5 của Hợp đồng tín dụng.
Quá trình tham gia hòa giải thì ông T1 thừa nhận có kí kết hợp đồng tín dụng số 0062/2023/HĐTD-OCB-CN ngày 03/03/2023; Khế ước nhận nợ Số 0062/2023/KUNN-OCB-CN ngày 03/03/2023 và chấp nhận trả nợ cho Ngân hàng số tiền trên. Xét thấy đây là sự tự nguyện của ông T1 và phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
Vì vậy Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông T1 trả nợ tổng số tiền nợ tính đến ngày 27/6/2025 với số tiền là 631. 472. 134 đồng là có cơ sở nên cần chấp nhận.
[2.2]. Tài sản bảo đảm cho khoản vay:
Theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 0062/2023/BĐ ngày 03/03/2023 tại Văn phòng C, số công chứng 01702, thể hiện tài sản thế chấp cho khoản vay là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 16, tờ bản đồ số 44 tại xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 123796, do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 20/10/2021 cho bà Huỳnh Thị Thu H1 và biến động sang tên cho ông Quách Ngọc T1 ngày 10/01/2023. Tài sản bảo đảm đã được công chứng thế chấp theo quy định của pháp luật.
Ông T1 cũng thừa nhận tài sản thế chấp đã được thế chấp theo hợp đồng thế chấp trên đúng quy định của pháp luật và đồng ý giao tài sản đã thế chấp cho Ngân hàng TMCP P2 được quyền phát mãi, xử lý tài sản bảo đảm đã thế chấp để thu hồi toàn bộ khoản nợ trên cho ngân hàng TMCP P2.
Như vậy, cần xác định Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất trên là hợp pháp có hiệu lực pháp luật.
Khi nào ông Thanh thanh T2 hết tổng khoản nợ nêu trên cho TMCP P2 thì Ngân hàng TMCP P2 có trách nhiệm trả lại cho ông T1: 01 bản gốc Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB123796, thửa đất số 16, tờ bản đồ số 44 tại xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, được Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh Đ cấp ngày 22/10/2021 cho bà Huỳnh Thị Thu H1 và biến động cho ông Quách Ngọc T1 ngày 10/01/2023.
Nếu ông Quách Ngọc T1 không trả được nợ thì tài sản đã thế chấp tại hợp đồng thế chấp số 0062/2023/BĐ ngày 03/03/2023 tại Văn phòng C, số công chứng 01702 thì Ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan thi hành án Dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản nêu trên theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ.
[3]. Về án phí và về chi phí tố tụng (chi phí xem xét thẩm định tại chỗ):
Tại phiên tòa Ngân hàng không đồng ý với ý kiến của đại diện theo ủy quyền của ông T1. Căn cứ khoản 1 Điều 157; Điều 147 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26 và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên bị đơn ông Quách Ngọc T1 phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng.
Trả lại cho Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ sau khi thu được từ ông Quách Ngọc T1.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Khoản 3 Điều 26; Khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 146; Điều 147; Điều 157; khoản 1 Điều 157; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238; Điều 266, Điều 267, Điều 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ Điều 317; Điều 318; Điều 319; Điều 320; Điều 321; Điều 322 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Áp dụng Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng;
- Áp dụng Điều 4; Điều 56; khoản 1 Điều 58 Nghị định 163/2006/NĐ-CP, ngày 29/12/2006 của Chính Phủ quy định về giao dịch bảo đảm;
- Điều 26 và Điều 27 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương Mại Cổ phần P2 .
Buộc ông Quách Ngọc T1 phải trả cho Ngân hàng TMCP P2 tổng số nợ là 631.472.134 đồng (Sáu trăm ba mươi mốt triệu, bốn trăm bảy mươi hai ngàn, một trăm ba mươi bốn đồng). Trong đó nợ gốc là 499.999.999 đồng và nợ lãi tính đến ngày 27/6/2025 số tiền 131.472.135 đồng.
Kể từ ngày 28/6/2025 ông Quách Ngọc T1 còn phải tiếp tục chịu lãi suất phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 0062/2023/HĐTD-OCB-CN ngày 03/03/2023 và Khế ước nhận nợ Số 0062/2023/KUNN-OCB-CN ngày 03/03/2023 cho đến khi thanh toán xong hết khoản nợ nêu trên.
Thời hạn trả: Theo trình tự thi hành án Dân sự.
- Về tài sản thế chấp: Khi nào ông Quách Ngọc Thanh thanh T2 hết khoản nợ nêu trên cho Ngân hàng TMCP P2 thì Ngân hàng TMCP P2 có trách nhiệm trả lại cho ông Quách Ngọc T1 bản gốc: 01 Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB123796, thửa đất số 16, tờ bản đồ số 44 tại xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, được Sở Tài Nguyên và Môi Trường Tỉnh Đ cấp ngày 22/10/2021 cho bà Huỳnh Thị Thu H1 và biến động cho ông Quách Ngọc T1 ngày 10/01/2023.
Nếu ông Quách Ngọc T1 không trả được nợ thì tài sản đã thế chấp tại hợp đồng thế chấp số 0062/2023/BĐ ngày 03/03/2023 tại Văn phòng C thì Ngân hàng TMCP P2 có quyền đề nghị cơ quan thi hành án Dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản theo quy định của pháp luật để đảm bảo cho việc thi hành án.
- Về án phí Dân sự sơ thẩm: Ông Quách Ngọc T1 phải chịu tiền án phí 36.000.000 đồng. Trả lại cho Ngân hàng TMCP P2 số tiền tạm ứng án phí là 12.933.000 đồng do ông Trần Phi T đã nộp theo biên lai số 0012625 ngày 04/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Tp. Buôn Ma Thuột.
- Về chi phí tố tụng: Ông Quách Ngọc T1 phải chịu 1.500.000đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Trả lại cho Ngân hàng TMCP P2 số tiền 1.500.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ sau khi thu được từ ông Quách Ngọc T1.
- Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản bán được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Mai |
Bản án số 111/2025/DS-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 111/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương Mại Cổ phần Phương Đông . Buộc ông Quách Ngọc Thanh phải trả cho Ngân hàng TMCP Phương Đông tổng số nợ là 631.472.134 đồng (Sáu trăm ba mươi mốt triệu, bốn trăm bảy mươi hai ngàn, một trăm ba mươi bốn đồng). Trong đó nợ gốc là 499.999.999 đồng và nợ lãi tính đến ngày 27/6/2025 số tiền 131.472.135 đồng.
