|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 111/2025/DS-ST
Ngày: 06-6-2025
V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Nhàn
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Ngọc Bích
- Ông Ngô Châu Duy
-Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Lý - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 241/2024/TLST – DS ngày 07/10/2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 304/2025/QĐXXST-DS ngày 14/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 369/2024/QÐST-DS ngày 06/5/2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty T1 (Việt Nam)
Địa chỉ: Số I P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lâm Thị Thùy D, sinh năm 2000 – Theo Giấy ủy quyền ngày 01/3/2025 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ liên lạc: P, Tầng D, Tòa nhà G T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Bà Lê Huỳnh T, sinh năm: 1998; (Vắng mặt)
Địa chỉ: H H, Phường H, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh;
Địa chỉ liên lạc: 450/85/4 Đ, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 29/02/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Công ty T1 (Việt Nam) sau đây gọi tắt là Công ty T1 có bà Lâm Thị Thùy D là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 06/12/2022 Công ty T1 ký Hợp đồng tín dụng số: 4062130 (sau đây gọi tắt là Hợp đồng tín dụng) về việc cấp tín dụng cho bà Lê Huỳnh T với khoản vay trị giá 32.310.000 đồng (Gồm 30.000.000 đồng giải ngân qua số tài khoản 060224908450 mở tại Ngân hàng TMCP S và 2.310.000 đồng tiền bảo hiểm khoản vay), lãi suất 48%/năm. Sau khi ký kết, Công ty T1 đã giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho bị đơn. Theo Hợp đồng tín dụng, bà T có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng trong kỳ hạn 24 tháng kể từ ngày 05/01/2023 đến ngày 05/12/2024. Sau khi được giải ngân bà T đã thanh toán 8.541.221 đồng (Trong đó: G đã trả: 3.583.987 đồng; L đã trả: 4.893.477 đồng; Lãi chậm trả đã trả: 19.244 đồng; Phí thu hộ đã trả: 44.513 đồng). Tuy nhiên, từ ngày 11/04/2023 bà T đã thanh toán không đầy đủ theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay mà phía Công ty T1 đã giải ngân. Công ty T1 cũng đã gửi thư đề nghị thực hiện nghĩa vụ thanh toán, để thông báo trực tiếp cho bà T biết về việc hoàn thành nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng. Tuy nhiên, bà T vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho phía Công ty T1.
Nay Công ty T1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết, tuyên xử: Buộc bị đơn – bà Lê Huỳnh T thanh toán cho Công ty T1 (Việt Nam) tổng cộng số tiền tạm tính đến ngày 06/6/2025 là: 68.125.319 đồng; gồm: Tiền nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 28.726.013 đồng; Tiền nợ lãi trong hạn: 12.782.939 đồng; Tiền nợ lãi quá hạn: 24.600.547 đồng; Tiền nợ lãi chậm trả: 2.015.820 đồng. Ngoài ra Công ty T1 còn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn – bà Lê Huỳnh T phải thanh toán lãi phát sinh kể từ ngày 07/6/2025 cho đến khi thi hành xong bản án có hiệu lực pháp luật.
Diễn giải công thức tính lãi: Về lãi trong hạn = Tổng số tiền lãi chưa trả mỗi kỳ (tính đến thời điểm tính lãi); Về lãi quá hạn: (Quy định tại khoản 8.3 Điều 8 của Hợp đồng tín dụng); Số tiền lãi quá hạn từng kỳ: = 150% x Lãi suất% x Số tiền gốc chưa trả mỗi kỳ x Số ngày quá hạn : 365 ngày; Số tiền lãi quá hạn = Tổng số tiền lãi quá hạn từng kỳ (tính đến thời điểm tính lãi); Về lãi chậm trả: (Quy định tại khoản 8.3 Điều 8 của Hợp đồng tín dụng); Số tiền lãi chậm trả từng kỳ = 10% x Số tiền lãi chưa trả mỗi kỳ x Số ngày quá hạn : 365 ngày; Số tiền lãi chậm trả = Tổng số tiền lãi chậm trả từng kỳ (tính đến thời điểm tính lãi). Cách tính lãi trên được căn cứ tại Điều 8.3 Hợp đồng tín dụng, Khoản 2 Điều 91 Luật tổ chức tín dụng năm 2010 về Lãi suất, phí trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng, và Khoản 4 Điều 13, Khoản 5 Điều 14 Thông tư 39/2016/TT-NHNN về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
Bị đơn bà Lê Huỳnh T tại bản tự khai ngày 15/4/2025 cũng như theo lời trình bày tại các biên bản về việc kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 15/4/2025; bà T xác nhận việc ký kết Hợp đồng tín dụng số: 4062130, ngày 06/12/2022 với Công ty T1 như nguyên đơn trình bày là đúng, về số dư nợ như nguyên đơn tính là đúng. Tuy nhiên, bà T cho biết hiện tại có khó khăn trong công việc làm ăn kinh doanh nên xin nguyên đơn cho trả mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi hết nợ và xin được miễn giảm tiền lãi.
Bị đơn – bà Lê Huỳnh T vắng mặt không lý do mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ: Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa.
Tại phiên tòa,
Nguyên đơn Công ty T1 có bà Lâm Thị Thùy D là người đại diện theo ủy quyền có đơn xin vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn - bà Lê Huỳnh T: Tòa án đã triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Qua kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Do bà Lê Huỳnh T vi phạm nghĩa vụ trả nợ, không thực hiện theo đúng thỏa thuận, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc và lãi theo hợp đồng đã ký kết.
Về án phí: Đương sự chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
- - Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Xét Công ty T1 khởi kiện yêu cầu bà Lê Huỳnh T thanh toán số tiền nợ theo Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng, nên có đủ cơ sở xác định đây là vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng tín dụng; bà Lê Huỳnh T có nơi cư trú tại Quận D, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- - Thủ tục mở phiên tòa vắng mặt đương sự: Nguyên đơn - Công ty T1 có bà Lâm Thị Thùy D là người đại diện theo ủy quyền có đơn xin vắng mặt; Bị đơn - bà Lê Huỳnh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Công ty T1 (Việt Nam) yêu cầu Tòa án tuyên xử: Buộc bà Lê Huỳnh T thanh toán cho Công ty T1 số tiền nợ tính đến ngày 06/6/2025 là 68.125.319 đồng; gồm: Tiền nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 28.726.013 đồng; Tiền nợ lãi trong hạn: 12.782.939 đồng; Tiền nợ lãi quá hạn: 24.600.547 đồng; Tiền nợ lãi chậm trả: 2.015.820 đồng. Kể từ ngày
07/6/2025, bà T còn phải tiếp tục trả lãi cho đến khi thanh toán xong nợ cho nguyên đơn.
Căn cứ vào lời trình bày của đương sự và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử nhận thấy: Ngày 06/12/2022, bà Lê Huỳnh T có ký với Công ty T1 (Việt Nam) Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4062130. Thực hiện hợp đồng, ngày 06/12/2022 Công ty đã giải ngân cho bà T số tiền 30.000.000 đồng. Ngân hàng Thương mại cổ phần S – Chi nhánh Q – Phòng G1 đã có công văn số 154/2024/CV-PGDKT ngày 22/11/2024 trả lời cho Tòa án, xác nhận bà Lê Huỳnh T có mở tài khoản tại ngân hàng và ngày 06/12/2022 có nhận số tiền 30.000.000 đồng với nội dung “Mirae Asset chuyen tien GN Le Huynh Thu HD 4062130”. Theo Giấy chứng nhận bảo hiểm khoản vay của Công ty B – số Hợp đồng bảo hiểm: MAFC/TNNNV/20221207/00029473 ngày 06/12/2022 ghi nhận số phí bảo hiểm đã nộp của bên mua là bà Lê Huỳnh T với số tiền phí: 2.310.000 đồng. Tổng số tiền hoàn toàn khớp với các tài liệu chứng cứ do bên nguyên đơn cung cấp.
Xét việc ký kết Hợp đồng là hoàn toàn tự nguyện, các điều khoản hai bên thỏa thuận trong hợp đồng đều đáp ứng đủ điều kiện chủ thể ký kết hợp đồng và phù hợp với nội dung quy định tại Điều 91, Điều 98, Điều 108 Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 17/2017/QH14Nội dung trong hợp đồng không trái đạo đức xã hội, không trái pháp luật, do vậy Hợp đồng có hiệu lực pháp luật và các bên phải có nghĩa vụ chấp hành.
Theo Hợp đồng tín dụng, Công ty T1 cho bà Lê Huỳnh T vay số tiền là 32.310.000 đồng, bà T có nghĩa vụ thanh toán số tiền gốc và lãi hàng tháng là 2.131.366 đồng kể từ ngày 05/01/2023 đến ngày 05/12/2024. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà T đã thanh toán cho Công ty T1 số tiền là 8.541.221 đồng. Sau đó, bà T không thanh toán tiếp, mặc dù nguyên đơn đã thông báo nhắc nợ nhiều lần nhưng bà T vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Như vậy, bà T đã vi phạm Điều 8 mà các bên đã thỏa thuận tại Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 4062130 ngày 05/12/2022. Do đó, Công ty T1 yêu cầu bà Lê Huỳnh T thanh toán số tiền nợ còn thiếu là phù hợp theo quy định tại Điều 91 và Điều 108 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên có cơ sở chấp nhận.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T1, buộc bà Lê Huỳnh T thanh toán cho Công ty T1 số tiền nợ tính đến ngày 06/6/2025 là 68.125.319 đồng; gồm: Tiền nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 28.726.013 đồng; Tiền nợ lãi trong hạn: 12.782.939 đồng; Tiền nợ lãi quá hạn: 24.600.547 đồng; Tiền nợ lãi chậm trả: 2.015.820 đồng. Kể từ ngày 07/6/2025, bà T còn phải tiếp tục trả lãi cho đến khi thanh toán xong nợ cho Công ty T1 theo Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 4062130 ngày 05/12/2022 mà các bên đã ký kết.
[2.2]. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn; H lại số tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý về sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91, Điều 95, Điều 98 và Điều 108 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Căn cứ Điều 8, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm và Thông báo số 15/TB-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về việc đính chính Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý về sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T1 (Việt Nam).
Buộc bà Lê Huỳnh T thanh toán cho Công ty T1 (Việt Nam) số tiền nợ theo Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 4062130 ngày 05/12/2022 (ngày giải ngân 06/12/2022) tính đến ngày 06/6/2025 là 68.125.319 đồng; gồm: Tiền nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 28.726.013 đồng; Tiền nợ lãi trong hạn: 12.782.939 đồng; Tiền nợ lãi quá hạn: 24.600.547 đồng; Tiền nợ lãi chậm trả: 2.015.820 đồng.
Kể từ ngày 07/6/2025 cho đến khi thi hành án xong, bà Lê Huỳnh T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi, phí trên số nợ chưa thanh thanh toán theo mức lãi suất của Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 4062130 ngày 05/12/2022 (ngày giải ngân 06/12/2022) được ký kết giữa Công ty T1 (Việt Nam) và bà Lê Huỳnh T.
Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Lê Huỳnh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.406.266 đồng (ba triệu bốn trăm lẻ sáu nghìn hai trăm sáu mươi sáu đồng).
Công ty T1 (Việt Nam) không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Công ty T1 (Việt Nam) số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 984.000 đồng (chín trăm tám mươi bốn nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006645 ngày 16/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4, Tp
3. Về quyền kháng cáo của các đương sự:
Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Thanh Nhàn |
Bản án số 111/2025/DS-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 111/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CÔng ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn MTV MIRAE ASSET (Việt Nam) - Lê Huỳnh Thư
