Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2025/DS-PT

Ngày: 27/02/2025

V/v tranh chấp hợp đồng

vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Anh Tuấn

Các Thẩm phán: Ông: Đàm Văn Thuận

Bà: Đặng Mai Hoa

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Đức - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân: Bà Đặng Thị Sơn Cầm - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 613/2024/TLPT-DS ngày 16 tháng 12 năm 2024, về việc “ Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 141A/2024/DS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2025/QĐPT-DS ngày 07 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 82/2025/QĐHPT-PT ngày 18 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thịnh T, sinh năm 1965

Nơi thường trú: Thôn Q, xã Y, huyện Q, thành phố Hà Nội.

Bị đơn: Bà Đào Thị H, sinh năm 1973

Nơi thường trú: Thôn Đ, xã S, huyện Q, thành phố Hà Nội.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án:

Bà Nguyễn Thị Mai X, sinh năm 1970

Nơi thường trú: Thôn Q, xã Y, huyện Q, thành phố Hà Nội.

Tại phiên toà có mặt: ông T, bà H và bà X.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, các lời khai tại Toà án và tại phiên tòa nguyên đơn là ông Nguyễn Thịnh T trình bày: Bà Đào Thị H với vợ ông là bà Nguyễn Thị Mai X chơi thân với nhau từ mấy chục năm, bà H có hỏi bà X cho vay ít tiền để trả nợ cho em trai là sỹ quan biên phòng bị vỡ nợ có nguy cơ sắp bị ra quân. Bà Xuân T1 hay thương người, thấy em trai của bạn thân bị như thế đã nói với ông giúp bà H. Sau một thời gian bà H báo bị vỡ nợ, mặc dù biết bà H bị vỡ nợ nhưng bà X vẫn bảo ông lấy tiền của gia đình để giúp những lần bà H quá khó khăn và gặp nguy hiểm. Ông đã cho bà H vay tổng cộng 04 lần. Trong đó có 03 lần vay tính lãi từ 0,8-1%/tháng tuỳ từng thời điểm thanh toán thực tế giữa hai bên. Sau khi vay tiền bà H đều hứa trả lương hằng tháng và lương dạy thêm của bà H. Tuy nhiên, quá trình thực hiện trả nợ, bà H chỉ thực hiện được thời gian đầu sau đó đã không thực hiện đầy đủ như đã hứa. Cụ thể các lần vay như sau:

  • Lần 01: Ông T cho bà H vay 474.000.000 đồng (bốn trăm bảy mươi tư triệu đồng) theo Giấy vay tiền ngày 22/10/2019 giữa ông và bà H đã ký xác nhận.
  • Lần 02: Ông T cho bà H vay 116.000.000 đồng (một trăm mười sáu triệu đồng) để bà H trả cho Ngân hàng TMCP V theo giấy Biên bản giao nhận ngày 16/3/2021 giữa ông và bà H đã ký xác nhận dưới sự chứng kiến của bà Nguyễn Thị Mai X và chị Nguyễn Thị H1.
  • Lần 03: Ông T cho bà H vay 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng) để bà H chuộc sổ đỏ theo giấy viết tay ngày 31/7/2022.

Tổng số tiền gốc ông cho bà H vay tính lãi xuất từ 0,8- 1%/ 1 tháng là 740.000.000 đồng. Quá trình vay tiền, bà H đã trả ông được 01 tháng lãi đầu tiên là 4.740.000 đồng vào năm 2019, sau đó không trả nữa. Đến tháng 4/2021, bà H đã bàn giao cho ông thẻ lương của bà H để ông nhận lương của bà H và đối trừ khoản nợ gốc, lãi bà H đã vay ông theo thoả thuận vay tiền giữa các bên. Tính đến tháng 8/2022 ông đã rút từ thẻ lương của bà H là 17 tháng tương ứng với số tiền bà H đã trả cho ông là 171.000.000 đồng (bao gồm cả tiền gốc và tiền lãi). Tổng số tiền bà H đã trả ông cả gốc và lãi là 175.740.000 đồng, trong đó số tiền gốc đã trả là 81.658.911 đồng; tiền lãi đã trả là 94.081.089 đồng.

Ngày 10/8/2022, sau khi đối trừ số tiền bà H đã trả, ông và bà H đã ký xác nhận khoản nợ gốc còn lại đối với số tiền ông đã cho bà H vay có lãi là 658.341.089 đồng (sáu trăm năm mươi tám triệu, ba trăm bốn mươi mốt nghìn, không trăm tám mươi chín đồng) theo Giấy viết tay ngày 10/8/2022.

Lần 04: là khoản vay không tính lãi: Ngày 07/6/2021, ông cho bà H vay 76.000.000 đồng để trả tiền đóng học cho nhà trường. Sau đó, một vài lần ông cho bà H vay tiền thêm trong lúc khó khăn và dịch Covid 19. Ngày 11/8/2022, hai bên chốt nợ khoản tiền vay không tính lãi này với nhau tổng số tiền bà H đã vay còn nợ lại là 86.217.000 đồng (tám mươi sáu triệu, hai trăm mười bảy nghìn đồng) theo Giấy viết tay ngày 11/8/2022 có chữ ký xác nhận của bà Đào Thị H.

Tính đến ngày 11/8/2022, tổng 04 lần ông đã cho bà H vay tiền là 826.217.000 đồng (tám trăm hai mươi sáu triệu, hai trăm mười bảy nghìn đồng). Số tiền lãi bà H phải trả từ tháng 10/2019 đến tháng 8/2022 là 170.661.009 đồng. Bà H đã trả ông 81.658.911 đồng tiền gốc và 94.081.089 đồng tiền lãi. Số tiền gốc bà H còn nợ ông T là 744.558.089 đồng và tiền lãi là 76.580.000 đồng.

Ngày 11/8/2022 ông và vợ chồng bà Đào Thị H, ông Nguyễn Huy L đã lập Vi bằng số 2034/2022/VB-TPLTL ngày 11/8/2022 được lập tại Văn phòng T2 địa chỉ số nhà B, khu dân cư M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên giữa vợ chồng bà là Đào Thị H, Nguyễn Huy L và ông Nguyễn Thịnh T có nội dung xác nhận việc vợ chồng bà H đã nhận đủ số tiền là 396.000.000 đồng của ông. Nhưng thực tế ông chưa giao tiền cho vợ chồng bà H. Hai bên chỉ thống nhất như vậy để nhằm mục đích khi nào bán được đất theo nội dung Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và Văn bản thoả thuận và cam kết giữa vợ chồng bà và ông Thành L1 bằng tay ngày 11/8/2022 đối với thửa đất ruộng số 11.186, tờ bản đồ số 05, diện tích 120m² đất trồng lúa tại N, thôn Đ, xã S, huyện Q, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 097016, số vào sổ 1611 do UBND huyện Q, thành phố Hà Nội cấp ngày 02/7/1999 cho hộ ông Nguyễn Huy L tại thôn Đ, xã S, huyện Q, tỉnh Hà Tây (cũ) thì trừ vào số tiền nợ.

Nay, ông khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Quốc Oai giải quyết buộc bà H phải trả ông số tiền gốc còn nợ lại là 744.558.089 đồng (làm tròn là 744.550.000 đồng). Đối với số nợ lãi 76.580.000 đồng tính đến ngày 11/8/2022 ông không yêu cầu bà H phải trả. Tuy nhiên ông yêu cầu bà H phải trả ông số tiền lãi phát sinh từ tháng 9/2022 đến nay là 40.000.000 đồng. Tổng số tiền bà H phải trả ông T cả gốc và lãi là 784.550.000 đồng.

Ông đề nghị Toà án nhân dân huyện Quốc Oai giải quyết ghi nhận kết quả Vi bằng số 2034/2022/VB-TPLTL ngày 11/8/2022 được lập tại Văn phòng T2; địa chỉ số nhà B, khu dân cư M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên đã được xác lập giữa ông và vợ chồng bà Đào Thị H, ông Nguyễn Huy L.

Ngày 30/8/2024, ông và bà Nguyễn Thị Mai X có đơn xin rút yêu cầu đối với khoản lãi xuất 40.000.000 đồng tiền lãi tính từ tháng 8/2022 đến nay và xin rút yêu cầu giải quyết đối với yêu cầu ghi nhận kết quả Vi bằng số 2034/2022/VB-TPLTL ngày 11/8/2022 được lập tại Văn phòng T2, không yêu cầu Toà án phải giải quyết trong vụ án này. Ông đề nghị Toà án giải quyết buộc bà Đào Thị H phải trả ông toàn bộ số tiền nợ gốc còn lại là 744.550.000 đồng (bảy trăm bốn mươi bốn triệu, năm trăm năm mươi nghìn đồng chẵn) và không yêu cầu bà H phải trả tiền lãi.

Về án phí: Ông yêu cầu bà H phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị đơn là Bà Đào Thị H trình bày: Ông Nguyễn Thịnh T có cho bà vay tiền nhiều lần. Việc vay tiền giữa bà và vợ chồng ông T chỉ mình bà biết. Mục đích vay tiền của bà là để sử dụng vào trang trải cuộc sống và dùng tiền để lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 097016, số vào sổ 1611 do Ủy ban nhân dân huyện Q, thành phố Hà Nội cấp ngày 02/7/1999 cho hộ ông Nguyễn Huy L tại thôn Đ, xã S, huyện Q, thành phố Hà Nội. Quá trình vay hai bên có thoả thuận lãi xuất tiền vay là từ 0,8 -1%/ 1 tháng của các khoản vay như ông T đã trình bày như trên là đúng. Sau khi đối trừ trả gốc và lãi hai bên đã xác nhận lại khoản nợ với nhau vào 02 ngày: Ngày thứ nhất là xác nhận khoản nợ gốc bà vay của ông T có tính lãi xuất đến ngày 10/8/2022 là 658.341.989 đồng (theo giấy viết tay tại sổ theo dõi cho vay của ông T ngày 10/8/2022 có xác nhận chữ ký của bà là đúng); và ngày thứ hai là ngày 11/8/2022 xác nhận khoản vay trong lúc bà H gặp khó khăn và dịch bệnh C là 86.217.000 đồng (theo giấy viết tay ngày 11/8/2022 có xác nhận chữ ký của bà là đúng). Tuy nhiên khoản xác nhận 86.217.000 đồng bà cần xem trong sổ bà tự theo dõi chỉ là 76.217.000 đồng, còn 10.000.000 đồng bà đã ký nhận là tiền ông T rút từ thẻ lương của bà đưa cho bà. Tính đến ngày 16/8/2024 bà tạm xác nhận số tiền còn nợ lại vợ chồng ông T số tiền gốc là 734.558.089 đồng và bà đồng ý làm tròn là 734.550.000 đồng.

Bà không đồng ý trả 40.000.000 đồng tiền lãi như ông T yêu cầu vì hiện tại bà H rất khó khăn. Hiện tại kinh tế của bà gặp rất nhiều khó khăn, nên bà không thể có điều kiện để thanh toán ngay cho vợ chồng ông T được, bà đề nghị Toà án và ông T cho bà thanh toán trả dần tiền gốc mỗi tháng 2.000.000 đồng tiền gốc, trả vào ngày 25 hằng tháng kể từ tháng 9/2024, hình thức chuyển khoản.

Bà đề nghị Toà án nhân dân huyện Quốc Oai giải quyết huỷ kết quả Vi bằng số 2034/2022/VB-TPLTL ngày 11/8/2022 được lập tại Văn phòng T2 địa chỉ số nhà B, khu dân cư M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên giữa vợ chồng bà là Đào Thị H, Nguyễn Huy L và ông Nguyễn Thịnh T về nội dung xác nhận việc vợ chồng bà đã nhận đủ số tiền là 396.000.000 đồng của ông Nguyễn Thịnh T. Vì thực tế vợ chồng bà chưa nhận khoản tiền trên của ông T mà hai bên chỉ thống nhất như vậy để nhằm mục đích thực hiện nội dung Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và Văn bản thoả thuận và cam kết giữa vợ chồng bà và ông Thành L1 bằng tay ngày 11/8/2022 đối với thửa đất ruộng số 11.186, tờ bản đồ số 05, diện tích 120m² đất trồng lúa tại N, thôn Đ, xã S, huyện Q, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 097016, số vào sổ 1611 do UBND huyện Q, thành phố Hà Nội cấp ngày 02/7/1999 cho hộ ông Nguyễn Huy L tại thôn Đ, xã S, huyện Q, tỉnh Hà Tây (cũ). Vì lúc đó bà nợ rất nhiều người, bà đã trao đổi với chồng bà là ông Nguyễn Huy L đồng ý lập vi bằng với ông T tại Văn phòng T2 địa chỉ số nhà B, khu dân cư M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên để ông T bán giúp đất cho bà để bà trang trải nợ nần chứ bà không đối trừ khoản nợ giữa bà và ông T; bà cũng không thế chấp sổ đỏ cho ông T.

Hiện tại ông T đang cầm 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 097016 đứng tên hộ ông Nguyễn Huy L thôn Đ, xã S, huyện Q, thành phố Hà Nội. Bà đề nghị Toà án giải quyết buộc ông T phải trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên của vợ chồng bà. Buộc ông T phải trả bà số tiền thiệt hại khi cầm sổ của gia đình bà trong thời gian qua.

Về án phí: Bà không phải là người làm đơn khởi kiện nên bà không phải chịu án phí.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Mai X trình bày: Bà và bà H là đồng nghiệp và chơi thân với nhau. Vì thương hoàn cảnh của bà H nên vợ chồng bà cho bà H vay tiền để trang trải khoản nợ trong cuộc sống. Bà lấy lãi của bà H vì vợ chồng bà phải rút sổ tiết kiệm tiền dưỡng già của mẹ bà để cho bà H vay khi bà H gặp khó khăn. Vì vậy, bà đề nghị Toà án giải quyết theo yêu cầu khởi kiện của chồng bà là ông Nguyễn Thịnh T, buộc bà H phải trả vợ chồng bà số tiền gốc và lãi là 784.550.000 đồng như ông T đã trình bày nên trên.

Đối với Vi bằng số 2034/2022/VB-TPLTL ngày 11/8/2022 được lập tại Văn phòng T2 được lập giữa ông T và vợ chồng bà H, bà có biết việc này. Sự việc đúng như ông T trình bày. Quá trình giải quyết vụ án bà đề nghị Toà án ghi nhận nội dung Vi bằng nêu trên cho vợ chồng bà để bà H đối trừ khoản nợ bà H đã vay, đồng thời trả toàn bộ số tiền còn lại cho vợ chồng bà, bà không đồng ý để bà H trả dần 2.000.000 đồng/tháng.

Ngày 30/8/2024, bà và ông T đã có đơn xin rút yêu cầu không buộc bà H phải trả lãi 40.000.000 đồng nữa và không yêu cầu giải quyết đối với Vi bằng nêu trên tại vụ án này. Nay, bà yêu cầu bà H phải trả vợ chồng bà số tiền gốc còn nợ là 744.550.000 đồng.

Việc vợ chồng bà cầm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên là do bà H tự nguyện giao cho vợ chồng bà cầm để hai bên xác lập vi bằng. Bà không đồng ý với yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại khi vợ chồng bà cầm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nhà bà H.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 141A/2024/DS-ST ngày 16/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội đã xử:

Chấp nhận đơn khởi kiện của ông Nguyễn Thịnh T ngày 20/6/2023 và đơn xin xin rút yêu cầu của ông Nguyễn Thịnh T và bà Nguyễn Thị Mai X ngày 30/8/2024.

Buộc bà Đào Thị H phải trả cho ông Nguyễn Thịnh T và bà Nguyễn Thị Mai X toàn bộ số tiền gốc còn nợ đến ngày 16/9/2024 là 744.550.000 đồng (Bảy trăm bốn mươi bốn triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (ông T, bà X) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án (bà H) còn phải chịu lãi xuất của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

Chấp nhận đơn xin rút yêu cầu của ông Nguyễn Thịnh T và bà Nguyễn Thị Mai X tại đơn xin rút ngày 30/8/2024 về việc không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết đối với Vi bằng số 2034/2022/VB-TPLTL ngày 11/8/2022 được lập tại Văn phòng T2 địa chỉ số nhà B, khu dân cư M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên giữa ông T và ông L, bà H; và không yêu cầu bà H phải trả tiền lãi phát sinh từ tháng 9/2022 đến tháng 8/2024 là 40.000.000 đồng, nên Toà án không xét.

Tách yêu cầu của bà H đề nghị huỷ kết quả Vi bằng số 2034/2022/VB-TPLTL ngày 11/8/2022 được lập tại Văn phòng T2 địa chỉ số nhà B, khu dân cư M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên giữa bà Đào Thị H, ông Nguyễn Huy L và ông Nguyễn Thịnh T và yêu cầu buộc ông T phải trả lại bà Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 097016 đứng tên hộ ông Nguyễn Huy L thôn Đ, S, Q, H và bồi thường thiệt hại cho bà trong thời gian ông T cầm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên thành một vụ kiện khác khi có đơn yêu cầu.

Ngoài ra bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo và nghĩa vụ chậm thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Không đồng ý với Bản án dân sự sơ thẩm số 141A/2024/DS-ST ngày 16/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội: Ngày 27/9/2024, bà Đào Thị H có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét lại Bản án sơ thẩm các nội dung:

  • Không đồng ý với số tiền nợ gốc tính đến ngày 16/9/2024 là 744.550.000 đồng;
  • Không đồng ý chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 33.782.000 đồng;
  • Huỷ Vi bằng số 2034/2022/VB-TPLTL ngày 11/8/2022 được lập tại Văn phòng T2 địa chỉ số nhà B, khu dân cư M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên giữa vợ chồng bà là Đào Thị H, Nguyễn Huy L và ông Nguyễn Thịnh T;
  • Buộc ông T phải trả lại bà Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 097016 đứng tên hộ ông Nguyễn Huy L thôn Đ, S, Q, H và bồi thường cho bà số tiền thiệt hại trong thời gian cầm sổ đỏ của gia đình bà và xem xét việc vi phạm thủ tục tố tụng của Toà án cấp sơ thẩm khi không hướng dẫn bà làm thủ tục tố tụng về yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập đối với yêu cầu trên mà vẫn xem xét thụ lý giải quyết.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn giữ nguyên các yêu cầu kháng cáo; các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng chấp hành đầy đủ các quy định của bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Sau khi phân tích các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và trình bày của đương sự tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Đào Thị H và xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn là bà Đào Thị H đảm bảo về chủ thể, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 271, 272 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự nên việc kháng cáo là hợp lệ. Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội giải quyết là đúng thẩm quyền.

[2] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn là bào Đào Thị H, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1] Về số tiền nợ gốc: Ông Nguyễn Thịnh T, bà Nguyễn Thị Mai X và bà Đào Thị H đều xác nhận: Vợ chồng ông T, bà X có cho bà H vay tiền để giải quyết việc cá nhân. Việc vay tiền được chia làm 04 lần, trong đó 03 lần tính lãi xuất từ 0,8-1%/1 tháng tuỳ từng thời điểm thanh toán thực tế giữa hai bên và 01 lần vay không tính lãi, cụ thể như sau:

  • Lần 01: Ông T cho bà H vay 474.000.000 đồng theo giấy vay tiền ngày 22/10/2019, giữa ông T và bà H đã ký xác nhận; Lãi xuất là 1%/1 tháng, tiền lãi được trả hằng tháng vào ngày thứ 30 tính từ ngày vay tiền, lãi suất chậm trả là 1,5%; Thời hạn vay, khi ông T cần hoàn lại, ông T báo trước cho bà H ít nhất 01 tháng.
  • Lần 02: Ông T cho bà H vay 116.000.000 đồng để bà H trả cho Ngân hàng TMCP V theo giấy biên bản giao nhận ngày 16/3/2021 giữa ông T và bà H đã ký xác nhận có sự chứng kiến của bà Nguyễn Thị Mai X và bà Nguyễn Thị Thu H1. Hai bên thoả thuận bà X có trách nhiệm nhận trả lương của bà H hằng tháng tại trường THCS Y và thanh toán cả tiền gốc, lãi còn nợ ngân hàng và công nợ cho ông T. Khi nào bà H muốn lấy lương thì phải thanh toán tiền gốc và lãi chưa thanh toán hết cho ông T.
  • Lần 03: Ông T cho bà H vay 150.000.000 đồng để bà H chuộc sổ đỏ theo giấy viết tay ngày 31/7/2022.

Tính đến ngày 10/8/2022, tổng số tiền gốc ông T cho bà H vay của 03 lần nêu trên là 740.000.000 đồng, lãi suất được tính từ 0,8- 1%/1 tháng tương đương từ 9,6 - 12%/1 năm; Số tiền bà H đã trả ông T cả gốc và lãi là 175.740.000 đồng (trong đó trả tiền gốc là 81.658.911 đồng; tiền lãi là 94.081.089 đồng) và hai bên xác nhận đã ký chốt số tiền ông T cho vay có tính lãi suất bà H còn nợ lại là 658.341.089 đồng theo giấy viết tay ngày 10/8/2022.

Lần 04: khoản vay không tính lãi: Ngày 07/6/2021, ông T cho bà H vay 76.000.000 đồng để trả tiền đóng học cho nhà trường và sau đó một vài lần vợ chồng ông T có cho bà H vay thêm tiền trong lúc khó khăn và dịch Covid 19. Sau khi đối trừ ngày 11/8/2022, hai bên chốt nợ với nhau tổng số tiền bà H đã vay là 86.217.000 đồng theo giấy viết tay ngày 11/8/2022 có chữ ký xác nhận của bà Đào Thị H.

Tính đến ngày 11/8/2022, tổng 04 lần ông T đã cho bà H vay tiền là 826.217.000 đồng. Bà H đã trả ông T 81.658.911 đồng tiền gốc và 94.081.089 đồng tiền lãi. Số tiền gốc bà H còn nợ ông T là 744.558.089 đồng. Hai bên thống nhất làm tròn là 744.550.000 đồng (bảy trăm bốn mươi bốn triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng).

Từ ngày 11/8/2022 đến nay, bà H không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho ông T như hai bên đã thoả thuận, như vậy, bà H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại các Điều 280, 466 Bộ luật dân sự nên. Toà án cấp sơ thẩm xác định bà T có nghĩa vụ trả nợ tiền vay và xác định số tiền nợ gốc còn phải trả ông T, bà X số tiền nợ gốc là 744.550.000 đồng có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[2.2] Về lãi suất và số tiền nợ lãi: Ông T và bà H thoả thuận lãi xuất của 03 khoản vay từ 0,8- 1%/1 tháng tương đương với 9,6- 12%/1 năm là phù hợp với quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 nên được chấp nhận. Đối với yêu cầu của vợ chồng ông T, bà X về việc yêu cầu bà H phải trả tiền lãi phát sinh từ tháng 9/2022 đến tháng 8/2024 là 40.000.000 đồng; ngày 30/8/2024, ông T, bà X có đơn xin rút yêu cầu, không đề nghị Toà án giải quyết nên cần đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu này.

[3] Về yêu cầu giải quyết đối với Vi bằng số 2034/2022/VB-TPLTL ngày 11/8/2022 được lập tại Văn phòng T2, địa chỉ số nhà B, khu dân cư M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Hội đồng xét xử xét thấy: Quan hệ pháp luật của vụ án là tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa ông T và cá nhân bà H. Vi bằng số 2034/2022/VB-TPLTL ngày 11/8/2022 được lập tại Văn phòng T2 được xác lập giữa vợ chồng bà Đào Thị H, ông Nguyễn Huy L và ông Nguyễn Thịnh T với nội dung xác nhận việc vợ chồng bà H nhận số tiền 396.000.000 đồng của ông T, không có nội dung nào thể hiện vi bằng liên quan đến việc vay nợ giữa ông T và bà H; Bà H cũng khẳng định việc lập Vi bằng chỉ nhằm mục đích thực hiện nội dung Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và Văn bản thoả thuận và cam kết giữa vợ chồng bà và ông Thành L1 bằng tay ngày 11/8/2022 nhờ ông T bán giúp đất ruộng của gia đình bà để bà trang trải nợ nần vì bà nợ rất nhiều người chứ không dùng để đối trừ khoản nợ của bà và ông T; Thực tế ông T cũng không bàn giao số tiền 396.000.000 đồng cho vợ chồng bà và ông T cũng xác nhận không có việc giao số tiền trên cho vợ chồng bà H; Ông T, bà X không có đơn yêu cầu giải quyết đối với nội dung Vi bằng nêu trên, tại Biên bản hoà giải của Toà án bà H mới trình bày yêu cầu xem xét giải quyết đối với nội dung Vi bằng nhưng cũng không ký vào biên bản hoà giải của Toà án nên không đủ điều kiện xác định là yêu cầu phản tố theo quy định tại Điều 200 Bộ luật tố tụng dân sự. Bản án sơ thẩm không xem xét giải quyết các yêu cầu của bà H, ông T, bà X đối với Vi bằng số 2034/2022/VB-TPLTL ngày 11/8/2022 trong vụ án này mà giành quyền khởi kiện cho các đương sự trong một vụ án khác khi có đơn yêu cầu là có căn cứ pháp luật.

[4] Về yêu cầu giải quyết buộc ông T trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0 097016 đứng tên hộ ông Nguyễn Huy L thôn Đ, S, Q, H (cũ) và bồi thường thiệt hại cho bà H trong thời gian ông T giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xét thấy: Như đã nhận định trên, việc vợ chồng bà H giao Giấy chứng nhận cho ông T và lập Vi bằng số 2034/2022/VB-TPLTL ngày 11/8/2022 là tự nguyện, nhằm mục đích thực hiện nội dung Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và Văn bản thoả thuận và cam kết giữa vợ chồng bà và ông Thành L1 bằng tay ngày 11/8/2022; Không có nội dung nào thể hiện vi bằng liên quan đến việc vay nợ giữa ông T và bà H; tại Biên bản hoà giải của Toà án bà H mới trình bày yêu cầu xem xét giải quyết trả lại Giấy chứng nhận nhưng cũng không ký vào biên bản hoà giải của Toà án nên không đủ điều kiện xác định là yêu cầu phản tố theo quy định tại Điều 200 Bộ luật tố tụng dân sự. Bản án sơ thẩm không xem xét giải quyết yêu cầu của bà H về việc buộc ông T trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại trong vụ án này mà giành quyền khởi kiện cho bà T trong một vụ án khác khi có đơn yêu cầu là có căn cứ pháp luật.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bản án sơ thẩm quyết định bà Đào Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 33.782.000 đồng là đúng với quy định tại Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Bản án sơ thẩm số 141A/2024/DS-ST ngày 16/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội đã xử là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật; không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bà Đào Thị H. Toà án sơ thẩm không tiến hành xem xét, thụ lý yêu cầu giải quyết đối với Vi bằng số 2034/2022/VB-TPLTL ngày 11/8/2022 nhưng lại quyết định chấp nhận yêu cầu xin rút các yêu cầu khởi kiện trên của ông T, bà X là chưa chính xác, cần sửa Bản án sơ thẩm về cách tuyên án.

Nhận định của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Do sửa án sơ thẩm nên bà Đào Thị H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Bà Đào Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 271, Điều 273 và khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 357, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Nguyễn Thịnh T đối với bị đơn là bà Đào Thị H.

    Buộc bà Đào Thị H phải trả cho ông Nguyễn Thịnh T và bà Nguyễn Thị Mai X toàn bộ số tiền gốc còn nợ đến ngày 16/9/2024 là 744.550.000 đồng (Bảy trăm bốn mươi tư triệu, năm trăm năm mươi nghìn đồng).

    Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  2. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của ông Nguyễn Thịnh T và bà Nguyễn Thị Mai X về việc yêu cầu bà Đào Thị H phải trả tiền lãi phát sinh từ tháng 9/2022 đến tháng 8/2024 là 40.000.000 đồng.
  3. Không giải quyết đối với yều cầu công nhận nội dung Vi bằng số 2034/2022/VB-TPLTL ngày 11/8/2022 được lập tại Văn phòng T2 địa chỉ số nhà B, khu dân cư M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
  4. Giành quyền khởi kiện về việc yêu cầu huỷ kết quả Vi bằng số 2034/2022/VB-TPLTL ngày 11/8/2022 được lập tại Văn phòng T2 địa chỉ số nhà B, khu dân cư M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên giữa bà Đào Thị H, ông Nguyễn Huy L và ông Nguyễn Thịnh T và yêu cầu buộc ông Nguyễn Thịnh T phải trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0 097016 đứng tên hộ ông Nguyễn Huy L thôn Đ, S, Q, H (cũ) và bồi thường thiệt hại cho bà H trong thời gian ông T cầm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên cho bà Đào Thị H bằng một vụ kiện khác khi có đơn yêu cầu.
  5. Trường hợp Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  6. Về án phí: Bà Đào Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 33.782.000 đồng (ba mươi ba triệu, bảy trăm tám mươi hai nghìn đồng) và không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí Số 0020131 ngày 30/9/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội được trừ vào số tiền án phí dân sự sơ thẩm. Bà Đào Thị H phải nộp 33.482.000 đồng (ba mươi ba triệu, bốn trăm tám mươi hai nghìn đồng). Ông Nguyễn Thịnh T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, trả lại ông Nguyễn Thịnh T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 16.897.000 đồng (mười sáu triệu, tám trăm chín mươi bảy nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí Số AA/2020/0000807 ngày 30/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội.
  7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - TAND huyện Quốc Oai;
  • - Chi cục THADS huyện Quốc Oai;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Cao Anh Tuấn

(Đã ký)

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 111/2025/DS-PT ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 111/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Thịnh T - Bà Đào Thị H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger