TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH Bản án số: 111/2025/DS-PT Ngày 03-4-2025 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất về lối đi. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Huỳnh Đắc Đương |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Văn Mến |
| Ông Nguyễn Văn Thành |
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Cẩm Nang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Kim Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 355/2024/TLPT-DS ngày 13 tháng 12 năm 2024 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất về lối đi.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 85/2024/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 09/2025/QĐ-PT ngày 04 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2025/QĐ-PT ngày 19 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Thạch Thị L, sinh năm 1974; địa chỉ ấp Ô, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà Thạch Thị L: Ông Thạch Văn T, sinh năm 1988 là Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T (có mặt).
- · Bị đơn: Ông Thạch Sốt T1 (R), sinh năm 1979; địa chỉ ấp Ô, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Thạch Sốt T1: Ông Phạm Minh L1, sinh năm 1993 là Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Thạch X, sinh năm 1971 (có mặt);
- Chị Thạch Thị Sô M, sinh năm 1994 (xin xét xử vắng mặt);
- Ông Thạch R1, sinh năm 1944 (xin xét xử vắng mặt);
- Bà Sơn Thị Pho L2, sinh năm 1978 (có mặt);
Cùng địa chỉ ấp Ô, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Người kháng cáo: Bà Thạch Thị L là nguyên đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 25 tháng 8 năm 2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ kiện nguyên đơn bà Thạch Thị L trình bày: Thửa đất 533 diện tích 2.140m² tờ bản đồ số 3 do bà Thạch Thị L đứng tên quyền sử dụng đất nằm giáp thửa 534, tờ bản đồ số 03, diện tích 2.220m² do ông Thạch Sốt T1 đứng tên quyền sử dụng đất cùng lạc tại ấp Ô, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh do thửa đất của bà Thạch Thị L nằm phía trong nên gia đình bà L đi ra ngoài trên thửa đất 534 lối đi này gia đình bà L đi từ năm 1975 đến nay trên 30 năm, nay ông Thạch Sốt T1 không cho gia đình bà Thạch Thị L đi nên bà Thạch Thị L yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận lối đi công cộng có diện tích 142,7m² (ngang 02m, dài 72m) thuộc thửa 534, tờ bản đồ số 03, diện tích 2.220m², đất tọa lạc tại ấp Ô, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh do ông Thạch Sốt T1 đứng tên quyền sử dụng đất.
Bị đơn ông Thạch Sốt T1 trình bày: Nguồn gốc đất tranh chấp thửa 534 tờ bản đồ số 03, diện tích 2.220m², đất tọa lạc tại ấp Ô, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh là của ông bà để lại và ông Thạch Sốt T1 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gia đình ông T1 vẫn cho gia đình bà Thạch Thị L đi ra lộ nhưng không biết lý do vì sao bà L khởi kiện. Nay bà Thạch Thị L yêu cầu ông Thạch Sốt T1 mở lối đi diện tích 142,7m² (ngang 02m, dài 72m) thuộc thửa 534, tờ bản đồ số 03, diện tích 2.220m² thì ông Thạch Sốt T1 không đồng ý mà ông T1 chỉ đồng ý mở lối đi ngang 1,5m, dài 72m, diện tích 108,6m² thuộc thửa 534 trong diện tích 2.220m² và trên lối đi này có hàng rào trụ bê tông, cốt thép đúc sẵn kéo lưới B40, tường xây gạch ống không tô, bà Thạch Thị L phải trả giá trị đất và giá trị hàng rào cho ông Thạch Sốt T1 theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Thạch X và bà Thạch Thị Sô M thống nhất với lời trình bày của bà Thạch Thị L.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Sơn Thị Pho L2 thống nhất như trình bày của ông Thạch Sốt T1.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Thạch R1 và ông Thạch L3 vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt nên không có lời trình bày.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 85/2024/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh đã xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị L. Buộc ông Thạch Sốt T1 (Rơs), bà Sơn Thị Pho L2 và ông Thạch R1 phải mở lối đi ngang 1,5m dài 72m diện tích 108,6m², thuộc thửa 534, tờ bản đồ số 3, diện tích 2.220m² loại đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc ấp Ô, xã L, huyện C do ông Thạch Sốt T1 đứng tên quyền sử dụng cho gia đình bà Thạch Thị L được quyền sử dụng. Buộc bà Thạch Thị L phải trả giá trị đất và giá trị tài sản trên lối đi cho ông Thạch Sốt T1, bà Sơn Thị Pho L2 và ông Thạch R1 số tiền là 60.864.348 đồng (giá trị đất là 60.816.000 đồng, giá trị tài sản là 48.348 đồng).
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ chậm thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 04 tháng 10 năm 2024 nguyên đơn bà Thạch Thị L kháng cáo yêu cầu sửa án sơ thẩm số 85/2024/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị L. Buộc ông Thạch Sốt T1 mở lối đi ngang 2m, dài 72m thuộc thửa 534, tờ bản đồ số 3 trong tổng diện tích 2.220m², đất tọa lạc ấp Ô, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn bà Thạch Thị L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử. Từ khi thụ lý vụ án đến khi quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử phúc thẩm.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đối với đương sự từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Ngày 04 tháng 10 năm 2024 nguyên đơn bà Thạch Thị L kháng cáo, việc kháng cáo của đương sự còn trong hạn luật định cần được chấp nhận.
Nhận thấy thửa đất số 534, diện tích 2.220m² là của gia đình ông Thạch Sốt T1. Lối đi này gia đình bà Thạch Thị L đã đi từ trước đến nay gia đình ông Thạch Sốt T1 không có ý kiến. Do nhà của ông T1 xuống cấp nên gia đình ông Thạch Sốt T1 đã xây căn nhà trên thửa đất số 534 cặp với đường đi, khi xây dựng nhà xong gia đình bà L vẫn đi trên lối đi này. Quá trình giải quyết vụ án ông Thạch Sốt T1 đồng ý mở lối đi cho gia đình bà Thạch Thị L với chiều ngang 1,5m, chiều dài 72m, diện tích 106,8m² nhưng phải trả giá trị đất theo quy định của pháp luật. Vì nếu lối đi mở ngang 2m sát tường nhà làm ảnh hưởng đến căn nhà cấp bốn của gia đình ông Thạch Sốt T1.
Xét thấy gia đình bà L không có lối đi nào khác ngoài lối đi này và bị vây bọc bên trong nên yêu cầu mở lối đi của bà Thạch Thị L là có căn cứ theo quy định khoản 1, Điều 254 Bộ luật dân sự năm 2015. Tuy nhiên bà Thạch Thị L yêu cầu mở lối đi ngang 2m, dài 72m, diện tích 142,7m² là sát với tường nhà của ông Thạch Sốt T1 sẽ làm ảnh hưởng đến căn nhà ông T1. Do đó cấp sơ thẩm mở lối đi ngang 1,5m, dài 72m diện tích 108,6m² trong tổng diện tích 2.220m² cho bà L và buộc bà Thạch Thị L trả giá trị đền bù lối đi và giá trị tài sản trên đất với số tiền 60.864.348 đồng cho ông T1 là có căn cứ. Do đó kháng cáo của bà Thạch Thị L là không có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 85/2024/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ của các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn và quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh. Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm nguyên đơn bà Thạch Thị L kháng cáo, việc kháng cáo của đương sự còn trong hạn luật định nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh theo quy định tại Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự 2025.
- [2] Xét nội dung yêu cầu kháng cáo: nguyên đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị L buộc ông Thạch Sốt T1, bà Sơn Thị Pho L2 và ông Thạch R1 phải mở lối đi ngang 02m, dài 72m thuộc thửa 534, tờ bản đồ số 3 trong tổng diện tích 2.220m², loại đất trồng cây lâu năm tọa lạc ấp Ô, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Xét thấy thửa 534, tờ bản đồ số 3, diện tích 2.220m² của gia đình ông Thạch Sốt T1 và thửa 533, tờ bản đồ số 3, diện tích 2.140m² của gia đình bà Thạch Thị L nằm giáp ranh với nhau tuy nhiên thửa 533 nằm phía trong thửa 534 nên khi sử dụng phần đất này thì bà Thạch Thị L phải đi qua phần đất của ông Thạch Sốt T1, phần lối đi này nằm cặp nhà của ông Thạch Sốt T1, gia đình của bà Thạch Thị L đi từ trước đến nay ông Thạch Sốt T1 không có ngăn cản. Khi căn nhà của ông Thạch Sốt T1 xuống cấp nên gia đình ông T1 xây dựng lại căn nhà trên thửa đất số 534, khi xây nhà xong thì bà Thạch Thị L vẫn đi trên lối đi này không có ý kiến hay tranh chấp gì, sau đó do hai gia đình có mâu thuẫn nên ông T1 xây dựng hàng rào chỉ chừa lối đi hẹp lại chiều ngang là 1,3m nên phát sinh ra tranh chấp. Trong quá trình giải quyết vụ kiện ông Thạch Sốt T1 đồng ý mở lối đi cho gia đình bà Thạch Thị L với chiều ngang 1,5m, chiều dài 72m, diện tích 106,8m² trong tổng diện tích 2.220m² nhưng bà Thạch Thị L phải trả lại giá trị đất và giá trị tài sản trên đất đã mở lối đi cho ông Thạch Sốt T1. Án sơ thẩm xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thạch Thị L, tuyên xử buộc Thạch Sốt T1 mở lối đi cho bà Thạch Thị L và bà Thạch Thị L phải trả lại giá trị tài sản trên đất và trả giá trị đất là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật.
Tuy nhiên khi xây dựng lại căn nhà trên thửa đất số 534 thì ông Thạch Sốt T1 xây cạnh lối đi mà ông đã chừa ra cho bà Thạch Thị L sử dụng nên khi mở lối đi 2m thì nằm sát với tường nhà của ông Thạch Sốt T1 sẽ làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất và làm thiệt hại đến tài sản của ông Thạch Sốt T1. Tại khoản 1 Điều 254 Bộ luật dân sự năm 2015 có quy định “Lối đi được mở trên bất động sản liền kề nào mà được coi là thuận tiện và hợp lý nhất, có tính đến đặc điểm lợi ích của bất động sản bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi”. Đối chiếu với quy định trên việc yêu cầu mở lối đi ngang 2m của bà Thạch Thị L làm thiệt hại đến tài sản và quyền sử dụng đất của ông Thạch Sốt T1 là không phù hợp với quy định pháp luật nên cấp sơ thẩm xem xét chấp nhận mở lối đi chiều ngang 1,5m và chiều dài 72m với diện tích là 108,6m² là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật.
Từ những nhận định và phân tích trên xét thấy không có cơ sở để thỏa mãn yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Thạch Thị L, đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh là phù hợp với các chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ kiện, phù hợp với quy định của pháp luật cần được chấp nhận. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Thạch Thị L. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
- [3] Về án phí dân sự phúc thẩm: bà Thạch Thị L là người dân tộc thiểu số, sống ở ấp có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí đúng quy định của pháp luật nên bà Thạch Thị L được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 254 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Thạch Thị L. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 85/2024/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh về việc tranh chấp yêu cầu mở lối đi giữa nguyên đơn bà Thạch Thị L với bị đơn ông Thạch Sốt T1.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị L. Buộc ông Thạch Sốt T1, bà Sơn Thị Pho L2 và ông Thạch R1 phải mở lối đi ngang 1,5m, dài 72m, diện tích 108,6m², thuộc thửa 534, tờ bản đồ số 3, diện tích 2.220m², loại đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc tại ấp Ô, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh do ông Thạch Sốt T1 đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (có sơ đồ khu đất kèm theo Công văn số 228/CNHCN ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Trà Vinh, lối đi được ký hiệu là A). Buộc bà Thạch Thị L phải trả tiền đền bù và giá trị tài sản trên lối đi cho ông Thạch Sốt T1, bà Sơn Thị Pho L2 và ông Thạch R1 số tiền 60.864.348 đồng (Sáu mươi triệu tám trăm sáu mươi bốn nghìn ba trăm bốn mươi tám đồng).
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành còn phải chịu thêm cho bên được thi hành khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, về lãi suất phát sinh do chậm trả được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Thachi Thị L4.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Đắc Đương |
Bản án số 111/2025/DS-PT ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp quyền sử dụng đất về lối đi
- Số bản án: 111/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất về lối đi
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T/c QSDĐ
