Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ DUY TIÊN

TỈNH HÀ NAM

Bản án số: 111/2024/HSST

Ngày 30 – 8 – 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Đông.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Quốc Phòng và ông Nguyễn Văn Hoằng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Khánh Vy – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Hoa – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 101/2024/TLST – HS ngày 09/8/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 111/2024/QĐXXST – HS ngày 19 tháng 8 năm 2024 đối với:

- Bị cáo: Vũ Văn T, tên gọi khác: Không, sinh năm 1972, nơi cư trú: Thôn A, xã K, thành phố P, tỉnh Hà Nam; giới tính: Nam, trình độ học vấn: 01/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Vũ Quốc H (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1 (đã chết); vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1970, con: 01 con sinh năm 1995. Tiền án: Ngày 29/6/2017 bị TAND huyện Duy Tiên (Nay là TAND thị xã Duy Tiên) xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 02/5/2018 (chưa nộp án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm).

Tiền sự: Không;

Nhân thân:

  • + Ngày 19/5/2010, UBND thành phố P ra quyết định về việc đưa đối tượng nghiện ma túy lang thang không nơi cư trú nhất định vào cơ sở chữa bệnh, thời hạn 12 tháng, đã chấp hành;
  • + Ngày 17/01/2012, UBND huyện K ra quyết định đưa đối tượng nghiện ma túy vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc, thời hạn 24 tháng, đã chấp hành;
  • + Ngày 10/7/2020 bị TAND huyện Kim Bảng xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 03/9/2021 (đã được xóa án tích).

Tạm giữ: Từ ngày 13/6/2024 đến ngày 22/6/2024 chuyển sang tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam – Công an tỉnh H.

- Bị hại: Anh Lê Văn P, sinh năm 1982, nơi cư trú: Thôn Đ, xã L, huyện K, tỉnh Hà Nam; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Vũ Thị T2, sinh năm 1958, nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  2. Bùi Thị H1, sinh năm 1960, nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố N, phường D, thị xã D, tỉnh Hà Nam, chỗ ở: Tổ dân phố P, phường Đ, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  3. Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1990, nơi cư trú: Đ, xã L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Lê Văn D; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 04/6/2024, Vũ Văn T một mình điều khiển xe mô tô biển số 90B3 – 062.55 đi từ phường Đ, thị xã D, tỉnh Hà Nam mang theo 02 thanh sắt phế liệu để tìm chỗ bán. Khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, T đi đến tổ dân phố C, phường D, thị xã D tới nhà chị Lê Thị N, sinh năm 1973 thì thấy có 01 đội thợ đang thi công xây dựng nhà ở nên T đỗ xe trước cửa nhà rồi mang 02 thanh sắt vào công trình để giao bán nhưng không có ai mua nên T ngồi ở bàn uống nước đặt ở giữa sảnh trước của nhà chị N. Tại đây, T quan sát thấy có 01 chiếc điện thoại đi động nhãn hiệu OPPO A58 của anh Lê Văn P, sinh năm 1982, trú tại thôn Đ, xã L, huyện K (là thợ xây dựng nhà chị N) để trên bàn uống nước nên T nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại di động trên. Sau đó, T cầm 02 thanh sắt mang theo lúc trước đó để sẵn lên xe mô tô biển số 90B3-062.55 rồi quay lại bàn uống nước, quan sát xung quanh không có ai để ý nên T đã lấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A58 của anh P ở trên mặt bàn bỏ vào túi quần trước bên trái của mình rồi nhanh chóng lên xe mô tô đi. Tập mang chiếc điện thoại OPPO A58 trên đi đến quán mua bán, sửa chữa điện thoại di động của anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1990 ở phường L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên để bán lấy tiền tiêu xài nhưng anh Tuấn A không mua do T không cung cấp được mật khẩu điện thoại. Sau đó T đã bán chiếc điện thoại di động trên cho một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ ở ngoài đường gần khu vực gần quán điện thoại của anh Nguyễn Tuấn A với giá là 1.500.000 đồng, số tiền này T đã sử dụng để tiêu xài cá nhân hết. Ngay sau khi bị mất chiếc điện thoại OPPO A58 anh Lê Văn P có đơn trình báo tới Công an phường D. Qua kết quả điều tra, xác minh đến khoảng 08 giờ 00 phút ngày 13/6/2024, T bị tổ công tác của Công an phường D triệu tập, đưa về trụ sở làm việc để làm rõ nội dung sự việc .

Vật chứng thu giữ, tạm giữ gồm: 01 xe mô tô biển số 90B3-062.55 đã qua sử dụng, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, số khung: RLHHC09045Y002467, số máy: HC09E5018763; 01 vỏ hộp điện thoại màu trắng, có in chữ OPPO A58, kích thước (18x9,5x5,5)cm; 01 hóa đơn bán hàng số HD014687 tên khách hàng: Lê Văn P; 01 video thu được từ hệ thống camera an ninh của gia đình chị Lê Thị N, được sao lưu ra đĩa DVD, niêm phong trong phong bì dán kín ký hiệu A1 và số tiền 400.000 đồng thu của Vũ Văn T.

Tại bản Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 40/KL – HĐ ngày 13/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã D kết luận: Điện thoại di động nhãn hiệu OPPO loại máy A58, vỏ màu xám xanh đã qua sử dụng có trị giá là 3.500.000 đồng.

Tại Kết luận về việc định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 45/KL-HD ngày 21/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã D kết luận: Ốp lưng silicon màu trắng của điện thoại di động mang nhãn hiệu OPPO A58 có trị giá 10.000 đồng; Sim số di động V có số thuê bao là 0964.927.445 có trị giá là 0 đồng

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công thị xã D xác định: Chiếc xe mô tô biển số 90B3-062.55 là tài sản hợp pháp của bà Vũ Thị T2, sinh năm 1958, trú tại xã H, huyện K, tỉnh Hà Nam (chị ruột của Vũ Văn T). Do không có phương tiện để đi lại nên đã cho Vũ Văn T mượn chiếc xe mô tô trên của bà T2 từ khoảng năm 2020 đến nay. Bà T2 không biết việc Vũ Văn T sử dụng chiếc xe mô tô trên sử dụng vào việc trộm cắp chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A58 của anh Lê Văn P, kết quả tra cứu xe máy vật chứng chiếc xe mô tô BKS 90B3 – 062.55 không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã D đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại chiếc xe mô tô trên cho bà Vũ Thị T2.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo chưa thực hiện bồi thường gì đối với bị hại.

Cáo trạng số 105/CT – VKS – DT ngày 08/8/2024 cùa Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Vũ Văn T mức án từ 24 (Hai mươi bốn) tháng đến 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 13/6/2024. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đưa ra quan điểm về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và tuyên án phí đối với bị cáo.

Trong phần tranh luận và lời nói sau cùng, bị cáo Vũ Văn T đề nghị HĐXX xem xét mức án thấp nhất và không tranh luận gì. Bị hại không có ý kiến tranh luận gi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, những người tiến hành tố tụng nêu trên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 15 giờ 15 phút, ngày 04/6/2024 tại tổ dân phố C, phường D, thị xã D, tỉnh Hà Nam, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản Vũ Văn T đã trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A58, có giá trị 3.510.000 đồng của anh Lê Văn P.

Hành vi nêu trên của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm tài sản của người khác được được pháp luật bảo hộ, đồng thời ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Hành vi của bị cáo Vũ Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng số 105/CT - VKS - DT ngày 08/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS):

Bị cáo là người có nhân thân xấu. Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm”, do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt:

Hình phạt chính: Từ những nhận định trên, xét thấy bị cáo là người có nhân thân xấu, ham chơi, lười lao động, coi thường pháp luật, là người đang có án tích nhưng tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, vì vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp thực tế và khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản mà bị cáo chiếm đoạt của bị hại là chiếc điện thoại OPPO A58 có giá trị 3.510.000 đồng. Bị cáo chưa bồi thường gì cho người bị hại, chưa thống nhất được bồi thường với bị hại. Tại phiên toà anh Lê Văn P yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho anh giá trị chiếc điện thoại theo định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã D với giá là 3.510.000đ. Yêu cầu này của anh P là có căn cứ nên được HĐXX chấp nhận.

[6] Về xử lý vật chứng vụ án:

Đối với chiếc xe mô tô BKS 90B3-062.55: Đã xử lý trong giai đoạn điều tra nên HĐXX không đặt ra xem xét.

Đối với số tiền 400.000đ (Bốn trăm nghìn) đồng đã thu của bị cáo Vũ Văn T do không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại bị cáo nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án.

Đối với 01 hóa đơn bán hàng số HD014687 tên khách hàng: Lê Văn P tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.

[7] Về các tình tiết khác:

Đối với người đàn ông mua chiếc điện thoại OPPO A58 tại TP H theo Tập khai báo không xác định được là ai, địa chỉ ở đâu, ngoài lời khai của T ra không còn tài liệu chứng cứ nào khác để xác định làm rõ nhân thân, lai lịch và địa chỉ của người đàn ông trên. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an thị xã D không có căn cứ để điều tra, xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật là có cơ sở.

[8] Về án phí hình sự, dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đương sự thực hiện quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1. Về hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn T 24(Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/6/2024.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điều 42 Bộ luật hình sự và Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Vũ Văn T phải bồi thường cho bị hại anh Lê Văn P trị giá chiếc điện thoại di động OPPO A58 là 3.510.000 đồng (ba triệu năm trăm mười nghìn) đồng.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Trả lại bị cáo Vũ Văn T số tiền 400.000đ (Bốn trăm nghìn) đồng nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội: Buộc bị cáo Vũ Văn T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm: 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Án xử công khai sơ thẩm: Bị cáo, bị hại có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên;
  • - VKSND thị xã Duy Tiên;
  • - Chi cục THADS thị xã Duy Tiên;
  • - Cơ quan THAHS Công an tx Duy Tiên;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tiến Đông

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 111/2024/HSST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 111/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: VŨ VĂN T PHẠM TỘI "tRỘM CẮP TÀI SẢN"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger