TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 111/2024/HS-ST
Ngày: 24/6/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Từ
Thẩm phán: Ông Nguyễn Quang Trung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Duy Bảo, ông Trần Mai Khanh, bà Nguyễn Thị Quế Anh.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Lệ Huyền - Thẩm tra viên, Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đình Chung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24/6/2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 10/2024/TLST-HS ngày 12/01/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2024/QĐXXST-HS ngày 10/4/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Khắc Q; sinh năm 1989, tại huyện Đ, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Nhân viên Ngân hàng đã bị thôi việc; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Khắc H và bà Nguyễn Thị L; có vợ Đậu Thị Ngọc O, đã ly hôn và 01 con, sinh năm 2020; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/3/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Tiến H1 – Luật sư, Văn phòng L2 - Đoàn luật sư tỉnh N. Có mặt.
Bị hại:
- Ngân hàng thương mại cổ phần V2 (V3). Địa chỉ: số H, đường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của V3: Ông Lê Hoàn T, sinh năm 1979
Chức vụ: Trưởng bộ phận phòng Điều tra và phòng chống gian lận, Ngân hàng TMCP V2. Có mặt.
- Anh Ngô Đình T1, sinh năm 1978. Địa chỉ: thôn D, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Chị Trần Thị Thanh G, sinh năm 1985. Địa chỉ: khối I, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Nguyễn Cảnh T2, sinh năm 1975 và chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1978. Địa chỉ: xóm Y, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- - Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1955 và bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1962. Địa chỉ: xóm E, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- - Bà Đậu Thị Thúy V, sinh năm 1970 và ông Lê Duy P, sinh năm 1964. Địa chỉ: xóm M, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- - Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1958 và ông Chu Nhật X, sinh năm 1955. Địa chỉ: xóm P, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- - Bà Nguyễn Thị Thanh H3, sinh năm 1967. Địa chỉ: xóm N, xã G, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- - Chị Nguyễn Thị H4, sinh năm 1989. Địa chỉ: xóm F, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- - Chị Đậu Thị Ngọc O, sinh năm 1992. Địa chỉ: khối V, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- - Chị Đinh Thị H5, sinh năm 1999. Địa chỉ: xóm G, xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- - Chị Phan Yến H6, sinh năm 1991. Xóm F, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- - Anh Nguyễn Hữu Đ1, sinh năm 1994. Địa chỉ: khối A, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- - Anh Trần Tử C, sinh năm 1990. Địa chỉ: xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
2.3. Người làm chứng:
- - Chị Nguyễn Ngọc K, sinh năm 1994. Địa chỉ: xóm E, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- - Chị Vương Thị T4, sinh năm 1979. Địa chỉ: xóm M, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- - Anh Võ Chí Q1, sinh năm 1987. Địa chỉ: phòng C, chung cư T, số A L, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- - Chị Phan Thị Huyền T5, sinh năm 1984. Địa chỉ: khối C, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- - Chị Nguyễn Thị Thu H7, sinh năm 1983. Địa chỉ: khối T, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- - Chị Nguyễn Thị Anh V1, sinh năm 1979. Địa chỉ: khối D, phường C, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- - Chị Hứa Thị Mai H8, sinh năm 1980. Địa chỉ: khối T, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- - Chị Đào Thị Thanh L1, sinh năm 1998. Địa chỉ: ngõ E, tổ B, phường N, quận L, Hà Nội. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- - Chị Nguyễn Khánh H9, sinh năm 2000. Địa chỉ: số F T, phường T, quận H, Hà Nội. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- - Chị Nguyễn Thị Mai H10, sinh năm 2000. Địa chỉ: P, CT1A khu đô thị T, xã T, huyện Đ, Hà Nội. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- - Chị Đinh Thị Bích N, sinh năm 1999. Địa chỉ: số nhà B đường Đ, quận N, Hà Nội. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- - Chị Nguyễn Thị Minh N1, sinh năm 2000. Địa chỉ: tổ G, thị trấn C, huyện M, Hà Nội. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- - Anh Nguyễn Văn C1, sinh năm 1985. Địa chỉ: xã T, huyện Đ, Hà Nội. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- - Chị Vũ Hà T6, sinh năm 2000. Địa chỉ: số A ngõ D phố Y, phường Đ, quận B, Hà Nội. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 18/5/2022, Ngân hàng Thương mại Cổ phần V2 (sau đây gọi tắt là V3) ký Hợp đồng lao động số 37997-05-2022/HĐLĐ-VPB với Trần Khắc Q, loại Hợp đồng lao động xác định thời hạn 12 tháng (từ ngày 16/5/2022 đến ngày 15/5/2023); Nhiệm vụ của Trần Khắc Q tại V3 là Chuyên viên chính bán sản phẩm cho vay khách hàng cá nhân, tìm kiếm, thu thập, thẩm định thông tin, hồ sơ khách hàng cá nhân (tài sản bảo đảm, pháp lý, nguồn thu...) có nhu cầu vay vốn có tài sản bảo đảm; đồng thời, bán kèm khoản vay tín chấp và mở thẻ tín dụng tại V3. Từ tháng
10/2022, Trần Khắc Q làm việc tại V3 Chi nhánh N2, địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà A, đường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
Quy trình cho vay tại V3 được thực hiện như sau: Khi khách hành cá nhân có tài sản đảm bảo có nhu cầu vay vốn, Trần Khắc Q hướng dẫn khách hàng làm hồ sơ thủ tục vay vốn. Căn cứ hồ sơ vay vốn, V3 đồng ý phê duyệt các khoản vay theo Hợp đồng tín dụng hạn mức, ký kết Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp tài sản bảo đảm với khách hàng. Để được giải ngân khoản vay, khách hàng cung cấp bảng kê mua hàng và phải đến trụ sở V3 ký Khế ước nhận nợ, Giấy đề nghị giải ngân, trên Giấy đề nghị giải ngân có thông tin số tiền đề nghị giải ngân và tên người thụ hưởng, số tài khoản người thụ hưởng do khách hàng chỉ định. Việc ký Giấy đề nghị giải ngân được kiểm soát bởi Kiểm soát viên (sau đây gọi là SCR). Sau đó, Trần Khác Q2 sẽ trình Hồ sơ vay vốn của khách hàng cho Giám đốc chi nhánh V3 là ông Võ Chí Q1 ký duyệt rồi scan Hồ sơ đề nghị giải ngân vào máy tính và tải lên phần mềm hệ thống để hoàn thiện thủ tục tại V3 Chi nhánh N2. Bộ phận phê duyệt hồ sơ vay vốn của V3 Hội sở sẽ căn cứ vào các tài liệu trên hệ thống để tiến hành thủ tục giải ngân cho khách hàng vào tài khoản ngân hàng do khách hàng chỉ định trên Đề nghị giải ngân.
Quá trình thực hiện công việc được giao, Trần Khắc Q đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền giải ngân của khách hàng nhằm mục đích trả nợ và tiêu xài cá nhân, Trần Khắc Q đã làm giả Giấy đề nghị giải ngân bằng cách cắt ghép chữ ký của khách hàng, chỉnh sửa, thay đổi thông tin số tiền giải ngân, thông tin người thụ hưởng rồi scan tải lên phần mềm hệ thống trình phê duyệt. Trên cơ sở hồ sơ Trần Khắc Q tải lên, V3 đã giải ngân đến các tài khoản thụ hưởng theo ý chí của Trần Khắc Q. Sau đó, Trần Khắc Q đã liên hệ yêu cầu các chủ tài khoản thụ hưởng cung cấp tên, mật khẩu đăng nhập, mã OTP xác nhận để đăng nhập và quản lý Internet Bangking chiếm đoạt, sử dụng toàn bộ số tiền được giải ngân.
Quá trình điều tra xác định, trong thời gian từ ngày 21/11/2022 đến ngày 02/02/2023, bị cáo Trần Khắc Q đã có hành vi chiếm đoạt của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V2 số tiền giải ngân tại Hồ sơ vay vốn của 05 khách hàng cá nhân, gồm: Ngô Đình T1, Nguyễn Cảnh T2, Nguyễn Văn Đ, Đậu Thị Thúy V, Nguyễn Thị T3 số tiền 4.530.000.000 đồng. Ngoài ra, bị cáo Trần Khắc Q còn có hành vi gian dối, lợi dụng sự thiếu hiểu biết của khách hàng để chiếm đoạt tiền từ khoản vay tín chấp, thẻ tín dụng của 02 khách hàng Ngô Đình T1 và Trần Thị Thanh G. Toàn bộ số tiền chiếm đoạt được bị cáo Trần Khắc Q đã sử dụng để đánh bạc trực tuyến, trả nợ và chi tiêu cá nhân. Cụ thể:
1. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của V3 thông qua việc làm giả Đề nghị giải ngân trong Hồ sơ vay vốn của các khách hàng cá nhân:
1.1. Hồ sơ vay vốn của khách hàng Ngô Đình T1 (sinh năm 1978, trú tại thôn D, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An)
Khách hàng Ngô Đình T1 có nhu cầu vay vốn số tiền 1.000.000.000 đồng, tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 689443 do UBND huyện D cấp ngày 03/11/2009 đối với thửa đất số 590, tờ bản đồ số 10, địa chỉ: xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, được Ngân hàng cấp hạn mức tín dụng là 1.800.000.000 đồng. Khách hàng Ngô Đình T1 không chỉ định tài khoản thụ hưởng mà chỉ trao đổi với Trần Khắc Q rằng khi nào khoản vay được giải ngân thì gọi điện cho khách hàng đến để nhận tiền.
Sau khi khách hàng đến Ngân hàng để làm thủ tục vay vốn, Trần Khắc Q đã hướng dẫn cho khách hàng Ngô Đình T1 ký các tài liệu trong Hồ sơ tín dụng theo đúng quy định gồm: Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2211177473247 ngày 18/11/2022, Hợp đồng thế chấp tài sản, 02 (hai) Khế ước nhận nợ vào các ngày 21/11/2022 và 22/11/2022, 02 (hai) Giấy đề nghị giải ngân ngày 18/11/2022 với số tiền là 1.000.000.000 đồng và 800.000.000 đồng.
Sau khi khách hàng Ngô Đình T1 ký vào Giấy Đề nghị giải ngân trong hồ sơ vay vốn theo đúng quy định trước sự chứng kiến, xác nhận của chị Nguyễn Thị Thu H7 - Kiểm soát viên (SCR), Trần Khắc Q không trình ông Võ Chí Q1 – Giám đốc V3 chi nhánh N2 duyệt hồ sơ mà sử dụng phần mềm trên máy tính cắt ghép chữ ký của ông Võ Chí Q1 từ tài liệu khác vào, thêm tên người thụ hưởng là Nguyễn Thị H4, số tài khoản 0911174568 mở tại V3 vào Giấy đề nghị giải ngân của anh Ngô Đình T1 rồi scan lên phần mềm hệ thống trình V3 phê duyệt.
Trên cơ sở hồ sơ do Trần Khắc Q tải lên hệ thống, V3 Hội sở đã giải ngân cho khách hàng Ngô Đình T1 tổng số tiền 1.800.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản đến số tài khoản 0911174568 mở tại V3 mang tên Nguyễn Thị H4 (ngày 21/11/2022 giải ngân 1.000.000.000 đồng, ngày 22/11/2022 giải ngân 800.000.000 đồng).
Sau khi được Ngân hàng giải ngân, Trần Khắc Q đã liên hệ với chị Nguyễn Thị H4 yêu cầu cung cấp U (tên), P1 (mật khẩu) và mã OTP xác nhận để đăng nhập và sử dụng ứng dụng Internet Banking (V3) chuyển số tiền 1.800.000.000 đồng về số tài khoản 0541000253700 mở tại V4 mang tên Trần Khắc Q. Toàn bộ số tiền chiếm đoạt, Trần Khắc Q đã sử dụng để đánh bạc trực tuyến, trả nợ và chi tiêu cá nhân hết.
Hiện nay, khách hàng Ngô Đình T1 chưa nhận được bất kỳ một khoản tiền giải ngân nào từ V3.
Đối với hồ sơ lưu kho V3, Trần Khắc Q sử dụng con dấu chữ ký của ông Võ Chí Q1 – Giám đốc V3 Chi nhánh N2 được Q đặt làm trên mạng từ trước đóng lên Hợp đồng cho vay hạn mức và 02 (hai) Giấy đề nghị giải ngân (bản gốc) rồi đóng dấu của V3 để nộp hồ sơ lưu kho.
Tổng số tiền Trần Khắc Q chiếm đoạt của Ngân hàng Thương mại cổ phần V2 trong hồ sơ vay vốn của khách hàng Ngô Đình T1 là 1.800.000.000 đồng.
1.2. Hồ sơ vay vốn của khách hàng Nguyễn Cảnh T2 (sinh năm 1975, trú tại xóm Y, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An)
Khách hàng Nguyễn Cảnh T2 có nhu cầu vay vốn Ngân hàng số tiền 1.500.000.000 đồng, tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất thửa đất số 768, tờ bản đồ số 1, địa chỉ: xóm Y, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, được Ngân hàng cấp hạn mức tín dụng là 2.370.000.000 đồng. Ngày 14/12/2022, khách hàng Nguyễn Cảnh T2 đề nghị giải ngân số tiền 500.000.000 đồng và chỉ định tài khoản thụ hưởng số 0916050668 mang tên Nguyễn Thị Y mở tại V3. Với mục đích chiếm đoạt tiền giải ngân cho anh Nguyễn Cảnh T2 nên khi ký hồ sơ vay vốn, Trần Khắc Q đã cho anh Nguyễn Cảnh T2 ký 04 bản Giấy đề nghị giải ngân với cùng nội dung (cùng ngày 14/12/2022, cùng số tiền đề nghị giải ngân 500.000.000 đồng, người thụ hưởng Nguyễn Thị Y) trước sự chứng kiến, xác nhận của chị Nguyễn Thị Thu H7 - Kiểm soát viên (SCR).
Lần giải ngân đầu tiên, Trần Khắc Q thực hiện theo đúng quy định, ngày 15/12/2022, Ngân hàng đã giải ngân vào đúng tài khoản thụ hưởng do anh Nguyễn Cảnh T2 chỉ định mang tên Nguyễn Thị Y, số tài khoản 0916050668 mở tại V3 số tiền 500.000.000 đồng.
Đối với 03 lần giải ngân còn lại, Trần Khắc Q đã làm giả trang 1, 2 của Giấy đề nghị giải ngân bằng cách thay đổi số tiền đề nghị giải ngân, tên người thụ hưởng, số tài khoản thụ hưởng và cắt dán chữ ký của anh Nguyễn Cảnh T2 từ tài liệu khác vào rồi scan 03 giấy đề nghị giải ngân giả này cùng hồ sơ vay vốn của anh Nguyễn Cảnh T2 lên phần mềm hệ thống. Cụ thể: Ngày 16/12/2022 và 17/12/2022, Trần Khắc Q thay đổi người thụ hưởng thành Nguyễn Thị Thanh H3, tài khoản số 0354616452 mở tại V3, rồi cắt, dán chữ ký của khách hàng Nguyễn Cảnh T2 để làm ra 02 (hai) Giấy đề nghị giải ngân giả với cùng số tiền đề nghị giải ngân 500.000.000 đồng; Ngày 19/12/2022, Trần Khắc Q thay đổi số tiền giải ngân thành 870.000.000 đồng, thay đổi người thụ hưởng thành Nguyễn Thị Thanh H3, tài khoản số 0354616452 mở tại V3, cắt, dán chữ ký của khách hàng Nguyễn Cảnh T2 để làm ra 01 (một) Giấy đề nghị giải ngân giả.
Trên cơ sở hồ sơ do Trần Khắc Q tải lên hệ thống, V3 Hội sở đã giải ngân số tiền 1.870.000.000 đồng cho khách hàng Nguyễn Cảnh T2 bằng hình thức chuyển khoản đến tài khoản số 0354616452 mở tại V3 mang tên Nguyễn Thị Thanh H3, (ngày 16/12/2022, giải ngân số tiền 500.000.000 đồng; ngày 17/12/2022, giải ngân số tiền 500.000.000 đồng, ngày 19/12/2022 giải ngân số tiền 870.000.000 đồng).
Sau khi được giải ngân, Trần Khắc Q đã liên hệ với bà Nguyễn Thị Thanh H3 yêu cầu cung cấp tên, mật khẩu và mã OTP xác nhận để đăng nhập và sử dụng ứng dụng Internet Banking (V3) chuyển số tiền 1.870.000.000 đồng về tài khoản số 0541000253700 mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần N3 (V4) của Trần Khắc Q.
Sau đó, anh Nguyễn Cảnh T2 liên hệ hỏi tiền giải ngân khoản vay nên ngày 14/01/2023, bị cáo Trần Khắc Q đã chuyển khoản trả cho anh Nguyễn Cảnh T2 số tiền 1.000.000.000 đồng theo đề nghị giải ngân của anh T2.
Tổng số tiền Trần Khắc Q chiếm đoạt của ngân hàng trong hồ sơ vay vốn của anh Nguyễn Cảnh T2 là 870.000.000 đồng, Q đã sử dụng để đánh bạc trực tuyến, trả nợ và chi tiêu cá nhân hết.
Đối với hồ sơ lưu kho V3, Trần Khắc Q giữ nguyên 02 (hai) Giấy đề nghị giải ngân (bản gốc) mà khách hàng Nguyễn Cảnh T2 đã ký trước đó với tên người thụ hưởng Nguyễn Thị Y (mỗi Giấy đề nghị giải ngân số tiền 500.000.000 đồng); còn đối với G1 đề nghị giải ngân số tiền 870.000.000 đồng, Trần Khắc Q làm lại trang 1, 2 của Giấy đề nghị giải ngân rồi tự ký giả chữ ký nháy của khách hàng, sau đó thay thế trang 1, 2 của Giấy đề nghị giải ngân mà khách hàng Nguyễn Cảnh T2 đã ký trước đó để lưu kho.
1.3. Hồ sơ vay vốn của khách hàng Nguyễn Văn Đ (sinh năm 1955, trú tại xóm E, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An)
Ngày 05/01/2023, khách hàng Nguyễn Văn Đ đứng tên trên Hồ sơ tín dụng vay vốn thay cho con trai là anh Nguyễn Ngọc K (sinh năm 1994, trú tại xóm E, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An), nhu cầu vay vốn 1.400.000.000 đồng, tài sản bảo đảm là quyền sử dụng thửa đất số 402, tờ bản đồ 16, địa chỉ: xóm E, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An, được V3 cấp hạn mức tín dụng 2.100.000.000 đồng.
Với mục đích chiếm đoạt số tiền vay vốn của khách hàng để giải quyết việc cá nhân nên Trần Khắc Q đã sử dụng con dấu chữ ký của ông Võ Chí Q1 – Giám đốc V3 chi nhánh N2 được Q đặt làm trên mạng từ trước để đóng lên toàn bộ các tài liệu trong Hồ sơ vay vốn của khách hàng Nguyễn Văn Đ, bao gồm: Tờ trình kiêm nghị quyết phê duyệt ngày 28/12/2022, Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2212287979497, Hợp đồng thế chấp số LN22122879799497, Biên bản định giá
tài sản, Thỏa thuận, Thông báo, Khế ước nhận nợ ngay và Giấy đề nghị giải ngân cùng đề ngày 05/01/2023; Trần Khắc Q còn tự ký giả chữ ký nháy của ông Võ Chí Q1 trên từng trang của Hợp đồng thế chấp.
Khách hàng Nguyễn Văn Đ chỉ đề nghị giải ngân số tiền 1.400.000.000 đồng và chỉ định tài khoản thụ hưởng là 0936787668 mở tại V3 mang tên Nguyễn Ngọc D (con trai khách hàng). Tuy nhiên, lợi dụng khách hàng không đọc kỹ hồ sơ, Trần Khắc Q đã cho ông Nguyễn Văn Đ ký Giấy đề nghị giải ngân với số tiền là 2.100.000.000 đồng, tên người thụ hưởng là Nguyễn Thị Thanh H3, số tài khoản 0354616452 mở tại V3 trước sự chứng kiến và xác nhận của chị Phan Thị Huyền T5 - Kiểm soát viên (SCR). Khi khách hàng thắc mắc về việc chỉ có nhu cầu giải ngân số tiền 1.400.000.000 đồng nhưng tại sao hồ sơ lại ghi là 2.100.000.000 đồng thì Trần Khắc Q giải thích số tiền 2.100.000.000 đồng là hạn mức của khoản vay còn gia đình có nhu cầu vay vốn 1.400.000.000 đồng thì chỉ giải ngân số tiền 1.400.000.000 đồng. Sau khi làm xong hồ sơ vay vốn, do đang nợ tiền của bà Nguyễn Thị Thanh H3 không tiện để lấy thông tin mã OTP nên Trần Khắc Q đã chỉnh sửa trang 1, 2 Giấy đề nghị giải ngân thay đổi thông tin người thụ hưởng thành Trần Thị Thanh G, tài khoản số 0976448839 mở tại V3, cắt dán chữ ký nháy của Khách hàng làm ra bản giấy đề nghị giải ngân giả rồi tải lên phần mềm hệ thống để trình phê duyệt.
Trên cơ sở hồ sơ do Trần Khắc Q tải lên hệ thống, ngày 06/01/2023, V3 Hội sở đã giải ngân số tiền 2.100.000.000 đồng cho khách hàng Nguyễn Văn Đ bằng hình thức chuyển khoản đến số tài khoản 0976448839 mở tại V3 mang tên Trần Thị Thanh G.
Sau khi được giải ngân, Trần Khắc Q đã liên hệ với chị Trần Thị Thanh G yêu cầu cung cấp mã OTP xác nhận (do trước đó Q đã liên hệ và có đã có tên, mật khẩu) để đăng nhập vào ứng dụng Internet Banking (V3) của khách hàng Trần Thị Thanh G rồi thực hiện việc chuyển số tiền 2.100.000.000 đồng về số tài khoản 0541000253700 mở tại V4 mang tên Trần Khắc Q.
Sau đó, khi khách hàng liên hệ yêu cầu chuyển tiền giải ngân theo Hồ sơ vay vốn thì bị cáo Trần Khắc Q đã chuyển khoản trả cho ông Nguyễn Văn Đ số tiền 1.400.000.000 đồng (ngày 09/01/2023, chuyển khoản số tiền 1.000.000.000 đồng; ngày 11/01/2023, chuyển khoản số tiền 400.000.000 đồng đến số tài khoản 0936787668 của anh trai khách hàng).
Tổng số tiền Trần Khắc Q chiếm đoạt của ngân hàng trong hồ sơ vay vốn của ông Nguyễn Văn Đ là 700.000.000 đồng, Q đã sử dụng để đánh bạc trực tuyến, trả nợ và chi tiêu cá nhân hết.
Đối với hồ sơ lưu kho V3, Trần Khắc Q nộp lưu bộ Hồ sơ tín dụng của khách hàng Nguyễn Văn Đ mà trong đó toàn bộ chữ ký của ông Võ Chí Q1 được đóng từ con dấu chữ ký, cùng với Giấy đề nghị giải ngân ghi tên người thụ hưởng Nguyễn Thị Thanh H3.
1.4. Hồ sơ vay vốn của khách hàng Đậu Thị Thúy V (sinh năm 1970, trú tại xóm M, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An)
Ngày 13/01/2023, khách hàng Đậu Thị Thúy V ký Hợp đồng vay vốn 1.000.000.000 đồng, tài sản bảo đảm là quyền sử dụng thửa đất số 603, tờ bản đồ số 13, địa chỉ: xóm M, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An, được Ngân hàng cấp hạn mức tín dụng là 1.000.000.000 đồng.
Khách hàng Đậu Thị Thúy V đề nghị giải ngân số tiền 1.000.000.000 đồng và chỉ định người thụ hưởng là Nguyễn Thị T7 số tài khoản 0981855268 mở tại V3. Trần Khắc Q đã gọi khách hàng đến Ngân hàng K1 hồ sơ vay vốn theo đúng quy định. Đối với Giấy đề nghị giải ngân (Gốc) sau khi khách hàng ký trước sự chứng kiến và xác nhận của chị Phan Thị Huyền T5 - Kiểm soát viên (SCR), Trần Khắc Q không scan Giấy đề nghị giải ngân (gốc) để tải lên phần mềm hệ thống giải ngân mà tự ý làm giả bản Giấy đề nghị giải ngân bằng cách: in trang 1, 2 của Đề nghị giải ngân mẫu từ máy tính ra sau đó tự ý điền tên, số tài khoản người thụ hưởng là Trần Thị Thanh G tài khoản số 0976448839 mở tại V3, sử dụng phần mềm cắt, dán chữ ký nháy của khách hàng, chữ ký của Kiểm soát viên tạo thành file PDF giả và scan vào máy tính tải lên phần mềm hệ thống để Ngân hàng giải ngân.
Trên cơ sở hồ sơ do Trần Khắc Q tải lên hệ thống, ngày 14/01/2023, V3 Hội sở đã giải ngân số tiền 1.000.000.000 đồng cho khách hàng Đậu Thị Thúy V bằng hình thức chuyển khoản đến số tài khoản 0976448839 mở tại V3 mang tên Trần Thị Thanh G.
Sau khi được giải ngân, Trần Khắc Q đã liên hệ với chị Trần Thị Thanh G yêu cầu cung cấp mã OTP xác nhận (do đã có tên, mật khẩu đăng nhập từ trước) để đăng nhập và sử dụng ứng dụng Internet Banking (V3) rồi chuyển số tiền 1.000.000.000 đồng về tài khoản số 0986948929 mở tại V3 để trả tiền cho khách hàng Nguyễn Cảnh T2 (sinh năm 1975, trú tại xóm Y, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An).
Sau đó, khi bà Đậu Thị Thúy V liên hệ yêu cầu chuyển tiền giải ngân thì bị cáo Trần Khắc Q đã chuyển khoản trả cho bà V số tiền 600.000.000 đồng vào tài khoản của khách hàng.
Như vậy, tổng số tiền bị cáo Trần Khắc Q chiếm đoạt của Ngân hàng trong hồ sơ vay vốn của bà Đậu Thị Thúy V là 400.000.000 đồng, Q đã sử dụng để đánh bạc trực tuyến, trả nợ và chi tiêu cá nhân hết.
Đối với hồ sơ lưu kho V3, Trần Khắc Q in trang 1-2 của Giấy đề nghị giải ngân, điền thông tin người thụ hưởng là Trần Thị Thanh G nhưng không có chữ ký nháy của khách hàng và kiểm soát viên, ghép vào các trang còn lại của G1 đề nghị giải ngân gốc để lưu hồ sơ.
1.5. Hồ sơ vay vốn của khách hàng Nguyễn Thị T3 (sinh năm 1958, trú tại xóm P, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An)
Ngày 01/02/2023, khách hàng Nguyễn Thị T3 đứng tên trên hồ sơ vay vốn cho con dâu là Vương Thị T4 (sinh năm 1979, trú tại xóm M, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An), tài sản bảo đảm là quyền sử dụng thửa đất số 10, tờ bản đồ số 27, địa chỉ: xóm P, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An, được Ngân hàng cấp hạn mức tín dụng là 1.900.000.000 đồng.
Khách hàng Nguyễn Thị T3 đề nghị giải ngân 400.000.000 đồng và chỉ định người thụ hưởng là Vương Thị T4 số tài khoản 0393237873 mở tại V3; Trần Khắc Q đã gọi khách hàng đến Ngân hàng và hướng dẫn cho khách hàng ký Hồ sơ vay vốn theo đúng quy định của Ngân hàng.
Với mục đích chiếm đoạt tiền giải ngân vay vốn của khách hàng, sau khi hướng dẫn khách hàng ký Giấy đề nghị giải ngân gốc trước sự chứng kiến và xác nhận của chị Phan Thị Huyền T5 - Kiểm soát viên (SCR) thì Trần Khắc Q không scan Giấy đề nghị giải ngân gốc để tải lên phần mềm hệ thống mà làm giả bản scan Giấy đề nghị giải ngân bằng cách: in trang 1, 2 của Đề nghị giải ngân mẫu từ máy tính ra sau đó tự ý điền tên, số tài khoản người thụ hưởng là Trần Thị Thanh G tài khoản số 0976448839 mở tại V3; sử dụng phần mềm trên máy tính cắt ghép chữ ký nháy của khách hàng, chữ ký của Kiểm soát viên (SCR) rồi lưu và tải bản scan Giấy đề nghị giải ngân giả đó lên phần mềm hệ thống để Ngân hàng giải ngân.
Trên cơ sở hồ sơ do Trần Khắc Q tải lên hệ thống, ngày 02/02/2023, V3 Hội sở đã giải ngân số tiền 1.900.000.000 đồng cho khách hàng Nguyễn Thị T3 bằng hình thức chuyển khoản đến số tài khoản 0976448839 mở tại V3 mang tên Trần Thị Thanh G.
Sau khi được giải ngân, Trần Khắc Q đã liên hệ với chị Trần Thị Thanh G yêu cầu cung cấp mã OTP xác nhận (do đã có tên, mật khẩu đăng nhập từ trước) để đăng nhập và sử dụng ứng dụng Internet Banking (V3) chuyển khoản số tiền 500.000.000 đồng đến số tài khoản 0981855268 mở tại V3 trả nợ cho khách hàng Đậu Thị Thúy V (sinh năm 1970, trú tại xóm M, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An);
Chuyển khoản số tiền 23.000.000 đồng đến số tài khoản 273295437 của khách hàng Nguyễn Cảnh T2 mở tại V3 để đóng tiền lãi suất; Chuyển khoản số tiền 19.500.000 đồng đến số tài khoản 19035324047017 mang tên Trần Khắc Q mở tại T8 để chi tiêu cá nhân; Chuyển khoản số tiền còn lại là 1.354.289.000 đồng về tài khoản Trần Khắc Q số 0541000253700 mở tại V4.
Sau đó, khi khách hàng Nguyễn Thị T3 liên hệ yêu cầu chuyển tiền thì bị cáo Q đã chuyển khoản trả cho bà T3 số tiền 1.140.000.000 đồng vào tài khoản của khách hàng (ngày 10/02/2023, chuyển 02 lần số tiền mỗi lần là 500.000.000 đồng, ngày 13/02/2023 chuyển số 140.000.000 đồng), sau khi nhận được tiền thì khách hàng đã hoàn trả lại cho V3.
Tổng số tiền bị cáo Trần Khắc Q đã chiếm đoạt của V3 trong hồ sơ vay vốn của bà Nguyễn Thị T3 là 760.000.000 đồng, Q đã sử dụng để đánh bạc trực tuyến, trả nợ và chi tiêu cá nhân hết.
Đối với hồ sơ lưu kho V3, Trần Khắc Q vẫn lưu bản gốc Giấy đề nghị giải ngân đã cho khách hàng ký đúng theo quy định (số tiền đề nghị giải ngân 400 triệu đồng, người thụ hưởng Vương Thị T4).
Như vậy, đối với hành vi thứ nhất, tổng số tiền bị cáo Trần Khắc Q chiếm đoạt của Ngân hàng là 4.530.000.000 đồng (bốn tỷ năm trăm ba mươi triệu đồng).
2. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của khách hàng thông qua làm Hợp đồng vay tín chấp và mở thẻ tín dụng.
1. Đối với khách hàng Ngô Đình T1 (sinh năm 1978, trú tại thôn D, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An)
Quá trình khách hàng Ngô Đình T1 vay vốn có tài sản bảo đảm tại V3 Chi nhánh N2, mặc dù khách hàng không có nhu cầu vay tín chấp, làm thẻ tín dụng nhưng bị cáo Trần Khắc Q lấy lý do phục vụ cho việc làm hồ sơ vay vốn nên đã hướng dẫn khách hàng Ngô Đình T1 ký hồ sơ vay tín chấp và hồ sơ làm thẻ tín dụng. Việc thực hiện làm hồ sơ đúng theo quy định của Ngân hàng. Khi khoản vay tín chấp được giải ngân, lợi dụng khách hàng thiếu hiểu biết và không đăng ký dịch vụ nhận tin nhắn biến động số dư tài khoản, Trần Khắc Q đã liên hệ với khách hàng Ngô Đình T1 yêu cầu cung cấp mã OTP xác nhận với lý do để phục vụ cho việc làm hồ sơ vay vốn; sau đó, Trần Khắc Q đăng nhập, sử dụng ứng dụng Internet Banking (V3) chuyển số tiền giải ngân 192.000.000 đồng của anh T1 về tài khoản số 0541000253700 của Q mở tại V4.
Đối với thẻ tín dụng, sau khi được gửi về địa chỉ của khách hàng, Trần Khắc Q đã liên hệ với khách hàng Ngô Đình T1 yêu cầu chụp 02 mặt thẻ tín dụng gửi cho Trần Khắc Q để phục vụ cho việc làm hồ sơ vay vốn, sau đó Trần Khắc Q sử
dụng thẻ tín dụng để giao dịch, chuyển tiền về tài khoản số 0541000253700 của Q mở tại V4 số tiền 45.000.000 đồng.
Để không bị phát hiện, khi đến kỳ hạn trả lãi khoản vay tín chấp và thanh toán thẻ tín dụng, Trần Khắc Q đã chuyển tiền vào tài khoản của khách hàng Ngô Đình T1 để thanh toán.
Tại thời điểm điều tra xác định, tổng số dư nợ mà bị cáo chiếm đoạt của anh Ngô Đình T1 đối với khoản vay tín chấp là 178.725.256 đồng; Thẻ tín dụng là 41.780.000 đồng. Tổng số tiền của hai khoản vay này là 220.505.256 đồng; Toàn bộ các khoản vay này đã được V3 hỗ trợ khách hàng Ngô Đình T1 xóa để xử lý tài sản bảo đảm.
Toàn bộ số tiền chiếm đoạt nêu trên, Trần Khắc Q khai nhận đã sử dụng chi tiêu cá nhân, đánh bạc trực tuyến bằng hình thức cá độ bóng đá trên trang web: www.cmbm88.com
2. Đối với khách hàng Trần Thị Thanh G (sinh năm 1985, trú tại khối I, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An)
Quá trình khách hàng Trần Thị Thanh G vay vốn có tài sản bảo đảm tại V3 Chi nhánh N2, mặc dù, khách hàng không có nhu cầu vay tín chấp nhưng Trần Khắc Q lấy lý do phục vụ cho việc làm hồ sơ vay vốn để hướng dẫn khách hàng Trần Thị Thanh G ký hồ sơ vay tín chấp.
Khi khoản vay tín chấp được giải ngân, lợi dụng khách hàng thiếu hiểu biết và không đăng ký dịch vụ nhận tin nhắn biến động số dư tài khoản, Trần Khắc Q đã liên hệ với khách hàng Trần Thị Thanh G yêu cầu cung cấp mã OTP xác nhận với lý do để phục vụ cho việc làm hồ sơ vay vốn. Sau đó, Trần Khắc Q đăng nhập, sử dụng ứng dụng Internet Banking (V3) rồi chuyển số tiền giải ngân 58.000.000 đồng của chị G về tài khoản số 0541000253700 của Q mở tại V4. Để không bị phát hiện, khi đến kỳ hạn trả lãi khoản vay tín chấp, Trần Khắc Q đã chuyển tiền vào tài khoản của khách hàng Trần Thị Thanh G để thanh toán. Tại thời điểm điều tra xác định số dư nợ khoản vay tín chấp mà bị cáo chiếm đoạt của chị Trần Thị Thanh G là 52.199.604 đồng.
Trần Khắc Q khai nhận sử dụng số tiền chiếm đoạt được để chi tiêu cá nhân, đánh bạc trực tuyến bằng hình thức cá độ bóng đá trên trang web: www.cmbm88.com
Như vậy, đối với hành vi thứ hai, tổng số tiền mà bị cáo Trần Khắc Q đã lừa đảo chiếm đoạt của 02 khách hàng Ngô Đình T1 và Trần Thị Thanh G là: 272.704.860 đồng.
Tổng cộng số tiền bị cáo Trần Khắc Q đã có thủ đoạn gian dối để lừa đảo chiếm đoạt của Ngân hàng thương mại cổ phần V2 và khách hàng anh Ngô Đình T1, chị Trần Thị Thanh G là: 4.802.704.860 đồng (trong đó: Ngân hàng bị chiếm đoạt 4.530.000.000 đồng, khách hàng Ngô Đình T1, Trần Thị Thanh G bị chiếm đoạt 272.704.860 đồng).
Tại Bản kết luận giám định số 216/KL-KTHS(Đ3-TL) ngày 24/5/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh N kết luận: Chữ ký mang tên Võ Chí Q1 trên các tài liệu gửi giám định là hình dấu chữ ký (không phải chữ ký trực tiếp); những hình dấu chữ ký này được đóng ra từ con dấu do Trần Khắc Q đặt làm.
- Vật chứng thu giữ:
- + 01 (một) con dấu hình hộp chữ nhật, màu xanh da trời – đen, kích thước 9x7,5x3,5 cm;
- + 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu đen đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Trần Khắc Q.
- Về dân sự:
- + V3 yêu cầu bị cáo Trần Khắc Q trả lại số tiền bị cáo đã chiếm đoạt của ngân hàng thông qua việc làm Giấy đề nghị giải ngân giả của 5 khách hàng cá nhân, gồm: Ngô Đình T1, Nguyễn Cảnh T2, Nguyễn Văn Đ, Đậu Thị Thúy V, Nguyễn Thị T3 là 4.530.000.000 đồng.
- + Đối với khoản vay tín chấp và thẻ tín dụng của anh Ngô Đình T1, V3 đã hỗ trợ khách hàng xóa khoản vay để xử lý tài sản bảo đảm, bao gồm: khoản vay tín chấp 178.725.256 đồng, thẻ tín dụng 41.780.000 đồng, tổng số tiền là 220.505.256 đồng. Anh Ngô Đình T1 yêu cầu bị cáo Trần Khắc Q trả lại toàn bộ số tiền nêu trên cho anh để anh hoàn trả lại cho V3. Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của V3 yêu cầu bị cáo Trần Khắc Q phải trả lại cho ngân hàng số tiền này.
- + Các khách hàng gồm: ông Nguyễn Cảnh T2, ông Nguyễn Văn Đ, bà Đậu Thị Thúy V, bà Nguyễn Thị T3 đã được V3 thực hiện việc xóa nợ khoản vay và xử lý tài sản thế chấp. Do đó, những người này này không có yêu cầu gì về mặt dân sự đối với bị cáo Trần Khắc Q.
- + Chị Trần Thị Thanh G yêu cầu bị cáo Trần Khắc Q trả lại số tiền bị cáo đã chiếm đoạt từ khoản vay tín chấp của chị Trần Thị Thanh G, số tiền tính theo dư nợ tại thời điểm điều tra là 52.199.604 đồng. Ngày 11/12/2023, gia đình bị cáo đã trả
cho bị hại chị Trần Thị Thanh G số tiền 30.000.000 đồng; chị Trần Thị Thanh G đã có Đơn đề nghị xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và yêu cầu bị cáo phải trả số tiền còn lại là 22.199.604 đồng.
Tại Bản Cáo trạng số 26/CT-VKSNA-P3 ngày 08/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An quyết định truy tố bị cáo Trần Khắc Q về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên nội dung Bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Khắc Q từ 17 năm đến 18 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 con dấu hình hộp chữ nhật; Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu đen thu giữ của bị cáo Trần Khắc Q.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 589 Bộ luật dân sự; Điều 48 Bộ luật hình sự, buộc bị cáo Trần Khắc Q trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần V2 (V3) số tiền 4.750.505.256 đồng; trả lại cho chị Trần Thị Thanh G số tiền 22.199.604 đồng.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Khắc Q, luật sư Nguyễn Tiến H1 không tranh luận về tội danh và khung hình phạt đối với bị cáo; chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự nguyện khắc phục một phần thiệt hại cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức án thấp hơn đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo Trần Khắc Q đồng ý với lời bào chữa của Luật sư, không tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất. Bị cáo đồng ý trả lại tiền chiếm đoạt của ngân hàng và anh T1 cho ngân hàng; trả lại số tiền đã chiếm đoạt cho chị Trần Thị Thanh G.
Người đại diện theo ủy quyền của bị hại Ngân hàng thương mại cổ phần V2 không tranh luận; yêu cầu bị cáo phải trả lại cho ngân hàng số tiền bị cáo chiếm
đoạt của ngân hàng và số tiền ngân hàng đã hỗ trợ xóa nợ khoản vay mà bị cáo đã chiếm đoạt của anh T1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về các quyết định và hành vi tố tụng: quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Điều tra Công an tỉnh N, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Khắc Q hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai nhận trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của những người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy có đủ căn cứ khẳng định: Trong khoảng thời gian từ ngày 21/11/2022 đến ngày 02/02/2023, Trần Khắc Q (nguyên cán bộ V3) đã có hành vi giả mạo chữ ký của ông Võ Chí Q1 - Giám đốc V3 Chi nhánh N2; sử dụng phần mềm máy tính cắt, dán chữ ký của khách hàng, chỉnh sửa thông tin người thụ hưởng, số tiền, số tài khoản thụ hưởng nhằm tạo ra Giấy đề nghị giải ngân giả trong Hồ sơ vay vốn của khách hàng Ngô Đình T1, Nguyễn Cảnh T2, Nguyễn Văn Đ, Đậu Thị Thúy V, Nguyễn Thị T3 theo ý chí cá nhân của bị cáo với mục đích rút tiền vay vốn của các khách hàng từ Ngân hàng thương mại cổ phần V2 để chiếm đoạt tài sản của Ngân hàng số tiền 4.530.000.000 đồng. Ngoài ra, bị cáo Trần Khắc Q còn có hành vi gian dối trong quá trình hướng dẫn khách hàng Ngô Đình T1 lập hồ sơ khoản vay tín chấp, mở thẻ tín dụng để chiếm đoạt của anh T1 số tiền 220.505.256 đồng; hướng dẫn khách hàng Trần Thị Thanh G lập hồ sơ khoản vay tín chấp để chiếm đoạt của chị G số tiền 52.199.604 đồng. Tổng cộng số tiền bị cáo Trần Khắc Q chiếm đoạt của các bị hại là 4.802.704.860 đồng, bị cáo đã sử dụng hết để trả nợ, chi tiêu cá nhân và đánh bạc bằng hình thức cá độ bóng đá online qua trang web: www.cmbm88.com. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Trần Khắc Q về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Khắc Q là nguy hiểm cho xã hội và phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế, hoạt động kinh doanh của bị hại, gây tâm lý hoang mang, bất bình trong nhân dân; xâm phạm đến an ninh trật tự xã hội. Bị cáo ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn có tiền để trả nợ, tiêu xài cá nhân và đánh bạc mà bị cáo đã chiếm đoạt tài sản của người khác. Bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản với phương thức, thủ đoạn tinh vi, chiếm đoạt số lượng tiền lớn; phạm tội nhiều lần. Do đó, cần xử phạt bị cáo nghiêm minh nhằm trừng trị và cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Nhưng xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, có các tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú và đã khắc khục được một phần thiệt hại cho chị Trần Thị Thanh G, được chị G có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, do đó cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản và đang phải có trách nhiệm trả nợ cho bị hại nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trần Khắc Q chiếm đoạt của ngân hàng V3 số tiền 4.530.000.000 đồng; chiếm đoạt của anh Ngô Đình T1 số tiền 220.505.256 đồng; chiếm đoạt của chị Trần Thị Thanh G số tiền 52.199.604 đồng. Chị Trần Thị Thanh G yêu cầu bị cáo phải trả lại cho chị số tiền bị cáo chiếm đoạt là 52.199.604 đồng ; anh Ngô Đình T1 yêu cầu bị cáo trả lại số tiền bị cáo đã chiếm đoạt của anh T1 là 220.505.256 đồng để anh T1 trả lại cho ngân hàng do ngân hàng đã xóa nợ số tiền này cho anh T1; V3 yêu cầu bị cáo phải trả lại cho ngân hàng số tiền bị cáo chiếm đoạt của ngân hàng là 4.530.000.000 đồng và số tiền ngân hàng đã xóa nợ cho anh T1 nêu trên. Xét thấy, quá trình điều tra, bị cáo đã tác động gia đình trả cho chị Trần Thị Thanh G số tiền 30.000.000 đồng nên buộc bị cáo Trần Khắc Q phải tiếp tục trả cho chị G số tiền 22.199.604 đồng. Đối với số tiền bị cáo chiếm đoạt của anh T1, do ngân hàng đã xóa nợ cho anh T1 nên việc anh T1 yêu cầu bị cáo trả lại tiền chiếm đoạt cho anh T1 là không có cơ sở. Tại phiên tòa, V3 yêu cầu bị cáo trả lại số tiền bị cáo chiếm đoạt cho ngân hàng và số tiền ngân hàng xóa nợ cho anh Ngô Đình T1 là có căn cứ cần chấp nhận.
[8] Về vật chứng:
- - 01 (một) con dấu hình hộp chữ nhật, màu xanh da trời – đen, kích thước 9x7,5x3,5 cm là công cụ, phương tiện phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu đen, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Trần Khắc Q là công cụ, phương tiện phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
[9] Về các vấn đề khác:
[9.1] Đối với nội dung đánh bạc trực tuyến theo khai nhận của bị cáo Trần Khắc Q, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã tiến hành điều tra xác minh nhưng không đủ căn cứ để kết luận hành vi đánh bạc của bị cáo Trần Khắc Q. Ngày 14/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã có Công văn số 4078/CSKT chuyển toàn bộ thông tin có liên quan đến trang web ww.cmbm88.com đến Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao Công an tỉnh N để theo dõi, nắm tình hình, xử lý theo quy định của pháp luật.
[9.2] Trách nhiệm của các cá nhân công tác tại V3: Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành làm việc với Đại diện V3 Hội sở, Giám đốc, Kiểm soát viên (SCR), nhân viên phòng kiểm soát rủi ro vận hành, nhân viên quản lý con dấu tại V3 Chi nhánh N2; chuyên viên xử lý tín dụng thuộc phòng xử lý tín dụng khách hàng cá nhân miền B – V3 Hội sở được phân công xử lý hồ sơ giải ngân của 05 khách hàng để làm rõ về quy trình cho vay khách hàng cá nhân, xác định trách nhiệm có liên quan.
Kết quả điều tra xác định, các cá nhân có liên quan đã thực hiện theo đúng quy trình, đúng nhiệm vụ được giao. Sai phạm chính thuộc về cá nhân bị cáo Trần Khắc Q đã lợi dụng lỗ hổng trong quy trình giải ngân của V3 (duyệt khoản vay online) trên hệ thống của V3 Hội sở để thực hiện hành vi gian dối làm giả giấy đề nghị giải ngân nhằm lừa đảo chiếm đoạt tiền của Ngân hàng. Trần Khắc Q là người trực tiếp tải bản scan hồ sơ đề nghị giải ngân lên phần mềm hệ thống mà không phải chịu sự kiểm soát của bất kỳ ai tại V3 chi nhánh N2; nhân viên V3 Hội sở chịu trách nhiệm kiểm tra, hạch toán hồ sơ căn cứ vào bản scan do bị cáo Trần Khắc Q tải lên, sau khi nhân viên đối chiếu với thông tin trên hệ thống phù hợp đã trình Lãnh đạo hạch toán khoản vay, quá trình kiểm tra hồ sơ không phát hiện được Q làm giả Giấy đề nghị giải ngân. Khi khoản vay được duyệt và giải ngân cho khách hàng, V3 Hội sở không thông báo về việc khoản vay được giải ngân và số tiền giải ngân cho V3 chi nhánh N2 nên V3 chi nhánh N2 không phát hiện được Trần Khắc Q đã làm giả giấy đề nghị giải ngân để chiếm đoạt tài sản của ngân hàng.
Các cá nhân có liên quan tại V3 chi nhánh N2 và V3 Hội sở không hề biết được mục đích của bị cáo, không trao đổi, thỏa thuận và không nhận bất kỳ lợi ích
vật chất nào từ bị cáo nên không có căn cứ xử lý đối với những người này. Đối với cá nhân ông Võ Chí Q1 - Giám đốc V3 Chi nhánh N2 đã bị V3 Hội sở xử lý kỷ luật bằng hình thức phê bình mức độ 2 vì thiếu trách nhiệm trong quản lý cán bộ, nhân viên.
[9.3] Về trách nhiệm của các cá nhân đứng tên tài khoản ngân hàng mà bị cáo Trần Khắc Q đã sử dụng để làm tài khoản chỉ định giải ngân
Quá trình điều tra xác định: Bị cáo Trần Khắc Q đã sử dụng tài khoản mở tại V3 của chị Trần Thị Thanh G (sinh năm 1985, trú tại khối I, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An), chị Nguyễn Thị H4 (sinh năm 1989, trú tại xóm F, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An) và bà Nguyễn Thị Thanh H3 (sinh năm 1967, trú tại xóm N, xã G, huyện Đ, tỉnh Nghệ An) làm các tài khoản thụ hưởng để giải ngân các khoản vay của 05 (năm) khách hàng cá nhân trong vụ án sau đó chiếm đoạt và sử dụng số tiền giải ngân để trả nợ, đánh bạc và chi tiêu cá nhân. Tuy nhiên, tại thời điểm đó chị Trần Thị Thanh G, chị Nguyễn Thị H4 và bà Nguyễn Thị Thanh H3 đều là khách hàng đang làm thủ tục vay vốn tại V3 của bị cáo Trần Khắc Q; do tin tưởng bị cáo Trần Khắc Q là Cán bộ ngân hàng mà mình đang vay vốn và vì thiếu hiểu biết nên đã cung cấp tên, mật khẩu (U, P1) đăng nhập vào ứng dụng Internet Banking (V3), mã OTP xác nhận khi được bị cáo yêu cầu mà không biết được việc bị cáo Trần Khắc Q sử dụng tài khoản của mình để thực hiện hành vi gian dối, chiếm đoạt tiền của V3. Những người này cũng không trao đổi và không nhận bất kỳ lợi ích nào từ Trần Khắc Quỳnh; ngoài ra, họ cũng không sử dụng tài khoản mở tại V3 và không đăng ký dịch vụ nhận biến động số dư tài khoản qua số điện thoại (SMS B) nên không biết được việc tiền được chuyển đến/chuyển đi từ số tài khoản của mình. Do đó, những cá nhân này không đồng phạm với bị cáo Trần Khắc Q về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
[10] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Khắc Q 18 (Mười tám) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo, ngày 30/3/2023.
Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Trần Khắc Q.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 589 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo Trần Khắc Q phải trả cho Ngân hàng thương mại
cổ phần V2 số tiền 4.750.505.256 đồng (Bốn tỷ, bảy trăm năm mươi triệu, năm trăm linh năm ngàn, hai trăm năm mươi sáu đồng); trả cho chị Trần Thị Thanh G số tiền 22.199.604 đồng (Hai mươi hai triệu, một trăm chín mươi chín ngàn, sáu trăm linh tư đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, người thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 con dấu hình hộp chữ nhật; Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu đen, thu giữ của bị cáo Trần Khắc Q.
Đặc điểm, tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/01/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Khắc Q phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 112.772.704 đồng (Một trăm mười hai triệu, bảy trăm bảy mươi hai ngàn, bảy trăm linh tư đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với các bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Từ |
- - Trại tạm giam CA tỉnh Nghệ An;
- - Cơ quan CSĐT- Công an tỉnh Nghệ An;
- - Cơ quan THA hình sự CA Nghệ An;
- - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
- - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An;
- - Bị cáo;
- - Người tham gia tố tụng;
- - UBND xã Đặng Sơn; huyện Đô Lương;
- - Lưu Tòa hình sự; Hồ sơ vụ án, VP.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN Nguyễn Quang Trung | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Từ |
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
Võ Duy Bảo | Nguyễn Thị Quế Anh | Trần Mai Khanh |
Bà Nguyễn Thị H4 lúc này cũng đang là khách hàng vay vốn của V3 nhưng chưa được giải ngân, khi Trần Khắc Q liên hệ thì không hề thông báo, trao đổi gì mà chỉ nói rằng khách hàng cần cung cấp thông tin để Q truy cập vào ứng dụng hệ thống để hoàn thiện việc vay vốn, giải ngân cho khách hàng.
Bản án số 111/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 111/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Khắc Q - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
