Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MƯỜNG TÈ

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2024/HSST

Ngày: 23/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Ngọc Sáng, ông Nguyễn Công Đại.

Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Thị Tuyết- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh- Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 106/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Lò Me L, sinh năm 1996, tại huyện M, tỉnh Lai Châu.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản A, xã P, huyện M, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 6/12; Chức vụ đoàn thể, chính quyền: Không; Dân tộc: Mảng; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lò A X (đã chết), con bà Mạ Phu B, sinh năm 1954; Bị cáo có chồng 1 Tao A (đã chết); Chồng 2 Ly Lòng C, sinh năm 1994 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện M, tỉnh Lai Châu, đến nay có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 12 giờ 15 phút ngày 06/5/2024, Lò Me L, sinh năm 1996, trú tại bản A, xã P, huyện M một mình điều khiển xe máy (L mượn của một người phụ nữ ngồi bán hàng rong trước cửa nhà của L) để đi đến thị trấn M, huyện M mua đồ dùng sinh hoạt cho gia đình. Sau khi mua xong đồ dùng, L điều khiển xe máy đi quay lại để đi về nhà. Trên đường đi về đến đoạn đường thuộc bản N, xã B, huyện M, L gặp một người phụ nữ lạ mặt. Qua trao đổi, L đã mua được của người này 01 gói Heroine, bên ngoài được gói bằng mảnh nilon màu hồng với giá 300.000 đồng để đem về sử dụng. Sau đó, L cất giấu gói H đã mua được vào trong túi quần bên phải đang mặc trên người rồi tiếp tục điều khiển xe máy đi về nhà. Sau khi về đến nhà, thấy không có ai ở nhà, L đem gói H đã mua được ra rồi chia nhỏ thành 10 phần và mỗi phần L dùng một mảnh nilon màu trắng gói lại bên ngoài thành một gói. L vứt mảnh nilon màu hồng ban đầu đi và cho 10 gói Heroine đã được chia nhỏ vào trong một lọ nhựa màu xanh, nắp màu vàng rồi đem đi cất giấu ở dưới chiếc gối để đầu giường ngủ của L và không nói cho ai biết.

Đến hồi 16 giờ 00 phút, ngày 07/5/2024, do lên cơn nghiện ma túy và thấy không có ai ở nhà nên L đã lấy 01 trong số 10 gói Heroine mà L cất giấu ở dưới chiếc gối đầu giường ngủ của L ra để sử dụng. Khi L vừa sử dụng Heroine xong thì bị tổ công tác Đồn Biên phòng P phát hiện. Tại vị trí L sử dụng Heroine, tổ công tác thu giữ được 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy và 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ. Qua đấu tranh, L đã mang 09 gói Heroine còn lại mà L đang cất giấu ở dưới chiếc gối để đầu giường ngủ ra giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác đã mời người chứng kiến, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại bản kết luận giám định tư pháp số 47 ngày 08/5/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc Công an huyện M, đã kết luận: 09 gói chất bột khô, màu trắng thu giữ của Lò Me L có tổng khối lượng là 0,51 gam.

Tại bản kết luận giám định số 537 ngày 09/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: 09 Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Lò M Liên gửi giám định đều là ma túy, loại: Heroine.

Tại bản cáo trạng số 66/CT- VKS-MT ngày 22/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè truy tố bị cáo Lò Me L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lò Me L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Lò M Liên từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 10 tháng tù, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 09 mảnh nilon màu trắng; 01 lọ nhựa màu xanh, nắp màu vàng; 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy; 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ; 01 phong bì do công văn do Đồn biên phòng P phát hành đã bị cắt một đầu.

Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng, bản luận tội của Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án thấp hơn mức đề nghị của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện M, tỉnh Lai Châu- Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu- Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp.

[2] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên Tòa và trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội phù hợp với lời khai nhận tội tại cơ quan điều tra, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận giám định về chất ma túy, các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Tòa án đã có đủ căn cứ kết luận: Vào hồi 16 giờ 00 phút, ngày 07/5/2024, tại nhà ở của Lò Me L thuộc bản A, xã P, huyện M, Lò Me L đang tàng trữ trái phép 0,51 gam Heroine để sử dụng thì bị tổ công tác Đồn biên phòng P phát hiện, bắt quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật. Do đó hành vi của bị cáo Lò Me L đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Hành vi nêu trên của bị cáo Lò Me L là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến khách thể được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ, đó là chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và biết rõ hành vi phạm tội của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo không những trực tiếp hủy hoại sức khỏe con người, làm suy thoái giống nòi, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia mà còn là nguyên nhân chủ yếu làm gia tăng tội phạm khác.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn. Nên cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và nhân thân của bị cáo về hành vi phạm tội của mình, Hội đồng xét xử xét thấy cần có một mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời để nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân, đảm bảo công tác phòng ngừa chung cho xã hội. Do đó mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là hoàn toàn phù hợp, cần chấp nhận.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo thì bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản và không giữ chức vụ gì nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về nguồn gốc số Heroine: L khai mua của người phụ nữ lạ mặt với giá 300.000 đồng. Quá trình điều tra không xác định được người này là ai, ngoài lời khai của bị cáo, không còn chứng cứ nào khác, nên không có căn cứ để xử lý. Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[6] Đối với người phụ nữ đã cho bị cáo mượn xe máy: Quá trình điều tra không xác định được người đó là ai, không thu được chiếc xe máy nên không thể xem xét xử lý. Hội đồng xét xử chấp nhận và không đề cập giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 0,51 gam Heroine thu giữ của bị cáo Cơ quan Điều tra đã gửi hết đi giám định và không hoàn lại mẫu vật nên không đề cập giải quyết. Vật chứng còn lại: 09 mảnh nilon màu trắng; 01 lọ nhựa màu xanh, nắp màu vàng; 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy; 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ; 01 phong bì do công văn do Đồn biên phòng P phát hành đã bị cắt một đầu, tất cả đều không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo là người dân tộc thiểu số và sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn. Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

[9] Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Lò Me L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lò Me L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/5/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 09 mảnh nilon màu trắng; 01 lọ nhựa màu xanh, nắp màu vàng; 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy; 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ; 01 phong bì do công văn do Đồn biên phòng P phát hành đã bị cắt một đầu.

(Vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện M và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mường Tè ngày 29/8/2024).

3. Án phí HSST: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu (01);
  • - VKS ND tỉnh Lai Châu (01);
  • - VKSND huyện Mường Tè (01);
  • - Công an huyện + THAHS (02);
  • - THADS huyện (01);
  • - Bị cáo (01);
  • - Lưu HSVA (01);
  • - Lưu TA

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Bình

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 111/2024/HSST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 111/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ...
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger