Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH TRÌ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

----------

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

Bản án số: 111/2024/HSST

Ngày: 17/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI:

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Kim Liên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hành.

Ông Hoàng Văn Long.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Từ Ngọc Thúy - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội.

Đại diện VKSND Huyện T, thành phố H gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn C- Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 111/2024/HSST ngày 24 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Phú Đ, sinh năm 1981; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện tại: Thôn L, xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; TKhông; Giới tính: nam, Con ông: Nguyễn Phú Đ1, Con bà: Nguyễn Thị L; Anh, em ruột: Có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai. Có vợ: Nguyễn Thị Thu H, có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2008. Danh chỉ bản số 175 ngày 10/3/2024 Công an huyện T lập; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.

Người bị hại: Công ty TNHH K1

Địa chỉ: Số G đường B, Khu đô thị V, phường V, quận L, Thành phố Hà Nội

Người đại diện hợp pháp của công ty TNHH K1: Chị Nguyễn Thị Hồng N theo giấy ủy quyền số 229/2024/GUQ-VF ngày 01/3/2024 của Chủ tịch HĐTV. Có mặt tại phiên toà.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan :

Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm: 1988. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn L, xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội

Người làm chứng:

Chị Nguyễn Thị X, sinh năm: 1982. Có mặt phiên tòa.

Địa chỉ: Cụm C, V, T, Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 03/4/2023, Nguyễn Phú Đ2 Giám đốc đại diện Công ty TNHH MTV D1 ký hợp đồng dọn dẹp vệ sinh, sắp xếp lại kho bãi, kiểm đếm vật tư, vận chuyển hàng hóa cho Công ty TNHH K2 N1địa chỉ tại: số H đường N, xã T, huyện T, H ngày 26/12/2023 đến 29/12/2023, thời gian dọn dẹp từ 08h00 phút đến 16h30 phút hàng ngày. Sau đó, Nguyễn Phú Đ3 gọi điện thuê Nguyễn Văn Q(Sinh năm: 1988) và anh Ngô Mạnh H1(Sinh năm: 1988) cùng có HKTT tại: thôn L, Đ, Đ, H Phạm Văn D(Sinh năm: 1985) và anh Nguyễn Văn C1(Sinh năm: 1990), cùng có HKTT tại: thôn Đ, D, Đ, Hà N1 đi làm cho ĐTrong quá trình làm việc tại kho N1Quyền thấy có nhiều điện thoại để trong kho sơ hở, không có ai trông coi quản lý nên ĐQkhông ai bảo ai đã tự mình lén nút trộm cắp điện thoại trong kho để bản thân sử dụng, cụ thể như sau:

Khoảng 10h00 phút ngày 28/12/2023, trong khi dọn dẹp N1(địa chỉ nêu trên) do thấy trong kho có nhiều điện thoại dưới đất, thấy sơ hở không ai để ý, Nguyễn Phú Đ3 nảy sinh ý định và nén lút lấy trộm 02 điện thoại di động Vsmart Lifve 4 (01 chiếc màu đen và 01 chiếc màu trắng) rồi cất giấu vào thùng giấy trong góc phòng của Kho rồi tiếp tục làm việc. Đến khoảng 11h30 phút cùng ngày, Đ4 lút cất giấu 02 chiếc điện thoại trên vào túi áo khoác của Đ5 mặc rồi mang về nhà Đtại thôn L, Đ, Đ, H sử dụng liên lạc.

Khoảng 16h40 phút chiều cùng ngày 28/12/2023, sau khi dọn dẹp xong thì Nguyễn Văn Q1 ra nhà vệ sinh của K2rửa chân tay để về. Tại đây, Q2 hiện thấy có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart- Live màu đen xám ở phía sau bồn vệ sinh, không biết ai đó đã để trước đó ở đây. Thấy không có ai trông coi quản lý, Q3 nảy sinh ý định và trộm cắp chiếm đoạt chiếc điện thoại trên, Q4 điện thoại cất vào túi áo Qđang mặc rồi cũng mang về nhà Qtại thôn L, Đ, Đ, H sử dụng liên lạc cá nhân.

Cùng ngày 28/12/2023, trong quá trình làm việc, Chị Nguyễn Thị X(Sinh năm: 1981; HKTT: V, V, T, H nhân viên bảo vệ kho N1qua kiểm tra camera giám sát của K phát hiện thấy Nguyễn Phú Đ6 Văn Qtrộm cắp 03 điện thoại nêu trên nên chị X1 gọi điện thông báo cho ĐQbiết “ai lấy điện thoại thì mang trả”, thì Đ3 thừa nhận “Đcó lấy điện thoại và hứa mang trả lại kho”. Sau đó, Đ3 cầm 02 điện thoại trộm cắp được trên mang đến cổng Công ty nói cho Q5 sự việc và nhờ Q6 vào giao nộp cho chị X2 trả lại Công ty.

Ngày 29/12/2023, nhận thức được hành vi phạm tội của mình Q7 tự về nhà lấy chiếc điện thoại Vsmart- Live màu đen xám đã trộm cắp cùng 02 chiếc điện thoại của Đ7 cắp trên và mang đến giao nộp cho chị X3 khai nhận bản thân cũng đã trộm cắp chiếc điện thoại. Sau đó, chị X1 báo Lãnh đạo quản lý kho và lập biên bản ghi nhận sự việc, rồi cùng Q8 Cơ quan công an xã Ttrình báo để làm rõ.

Cơ quan điều tra đã thu giữ của Nguyễn Văn Q

  • 01 chiếc điện thoại Vsmart Live màu đen xám dung lượng 64Gb (Quyền đã trộm cắp chiếm đoạt).
  • 01 chiếc điện thoại Vsmart Live 4 màu đen dung lượng 64Gb và 01 chiếc điện thoại Vsmart Live 4 màu trắng dung lượng 64Gb) (Đđã trộm cắp chiếm đoạt).

Cơ quan điều tra đã thu giữ của chị Nguyễn Thị X4 lưu trữ dữ liệu hình ảnh camera ghi lại nội dung sự việc liên quan.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Phú Đvà Nguyễn Văn Q9 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Đvà Q10 khai: Việc trộm cắp của Đ14 bên thực hiện trộm cắp riêng rẽ, không biết và không liên quan đến hành vi trộm cắp của nhau, việc trộm cắp không có ai biết và tham gia cùng. Đây là lần đầu tiên ĐQuyền trộm cắp, Ngoài số điện thoại đã trộm cắp trên thì ĐQkhông trộm cắp thêm bất cứ tài sản nào khác.

Qua điều tra xác định, sự việc xảy ra anh Ngô Mạnh H2 Phạm Văn D1và anh Nguyễn Văn C2 dọn dẹp tại Kho không trộm cắp tài sản và không hề biết, không liên quan gì việc phạm tội của Đvà Q

Quá trình điều tra xác định: Ngày 28/12/2023, K3 H2sau khi kiểm đếm lại tài sản, Kho chỉ bị mất 01 chiếc điện thoại di động Vsmart Live và 02 điện thoại Vsmart Live4 như đã nêu trên. Ngoài ra, không bị mất tài sản gì thêm.

Cơ quan điều tra tiến hành dẫn giải, kết quả: Quyền đã chỉ ra được đúng vị trí lấy trộm 01 chiếc điện thoại Vsmart Live nêu trên tại phía sau bệ bồn vệ sinh trong nhà vệ sinh của N1và Đchỉ đúng nơi lầy trộm 02 chiếc điện thoại Vsmart Live 4 từ trong thùng đựng đồ để trong kho thu hồi tại Kho Ngọc Hồi V tại T, T, Hà Nội

Ngày 31/12/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T định giá tài sản số 204 yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Tđịnh giá 03 chiếc điện thoại bị trộm cắp trên.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 23/KL-HĐĐGTS ngày 09/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T:

  • “01 điện thoại di động nhãn hiệu Vinsmart Live/64Gb màu đen, đã qua sử dụng có giá trị là: 990.000 đồng (Chín trăm chín mươi nghìn đồng).
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vinsmart Live4/64Gb, màu đen, đã qua sử dụng có giá trị là: 1.990.000 đồng (Một triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng)
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vinsmart Live 4/64Gb, màu trắng, đã qua sử dụng có giá trị là: 1.990.000 đồng (Một triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng).

Đối với Nguyễn Văn Q11 điều tra xác định hiện Quyền chưa có tiền án tiền sự. Việc Q12 cắp 01 chiếc điện thoại Vismart Live trên có giá trị: 990.000 đồng (chưa đến 2.000.000 đồng) chưa đủ cấu thành tội trộm cắp tài sản nên chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngày 30/4/2024, Công an huyện T Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 95/QĐ-XPHC đối với hành vi vi phạm của Quyền số tiền 2.500.000 đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ là có căn cứ đúng quy định.

Đối với 01 chiếc điện thoại Vsmart Live và 02 điện thoại Vsmart Live4 ĐQuyền đã trộm cắp thuộc tài sản Kho Ngọc Hồi ViFast của Công ty TNHH K1 nên ngày 26/4/2024, Cơ quan CSĐT -Công an huyện Tđã trao trả cho chị Nguyễn Thị Hồng N(Sinh năm: 1984, HKTT: Đội 6, Tả Thanh OT, H đại diện Công ty. Chị N2 nhận đủ tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì.

Đối với 01 USB bên trong chứa video hình ảnh nội dung vụ việc thu giữ, qua kiểm tra không truy cập để mở được dữ liệu. Cơ quan điều tra yêu cầu chị Nguyễn Thị X5 phía Công ty cung cấp dữ liệu gốc nhưng xác định dữ liệu gốc không còn nên không đủ căn cứ xác minh làm rõ.

Căn cứ vào các tình tiết và chứng cứ nêu trên;

Tại bản cáo trạng: số 113/CT-VKS-TT ngày 22/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố Nguyễn Phú Đại về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 -Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên toà:

Bị cáo Nguyễn Phú Đ3 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, thừa nhận tội danh bị truy tố là đúng. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin được hưởng mức án nhẹ nhất.

Người bị hại là công ty K1, chị Nguyễn Thị Hồng N3 đại diện của công ty có ý kiến: anh Đ2 nhân viên ký hợp đồng dọn dẹp vệ sinh, sắp xếp lại bãi kho cho công ty, đã có hành vi trộm cắp 02 chiếc điện thoại của công ty, nhưng đã hoàn trả lại ngay cho Công ty khi có yêu cầu, Công ty đã nhận lại tài sản và xin Hội đồng xét xử cho bị cáo Đ8 hưởng mức án nhẹ nhất, được cải tạo ngoài xã hội.

Người làm chứng chị Nguyễn Thị X6 ý kiến: chị là nhân viên bảo vệ của Công ty TNHH K1, sau khi phát hiện thấy bị cáo Đ9 trộm 02 điện thoại của công ty, chị đã thông báo cho bị cáo Đ10 bị cáo đã trả lại ngay cho công ty. Thái độ của bị cáo Đ11 khẩn và đã khắc phục trả lại ngay cho công ty. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Phú Đ12 t 10 (mười) đến 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 20 (hai mươi) đến 24 (hai mươi bốn) tháng.

Về vật chứng: Cơ quan công an đã trả lại cho Công ty TNHH K1 03 chiếc điện thoại.

Về dân sự: Đại diện của Công ty TNHH K4 chị Nguyễn Thị Hồng N đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì phần dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử không xét.

Bị cáo không có việc làm ổn định, không có thu nhập, không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; Căn cứ kết quả thẩm tra chứng cứ và xét hỏi tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về Tội danh và hình phạt: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 28/12/2023, tại kho N1 - Công ty TNHH K5 đường N, xã T, huyện T, Hà NộiNguyễn P lén lút trộm cắp tài sản của Công ty 02 điện thoại nhãn hiệu Vinsmart4/64Gb màu đen và màu trắng mỗi chiếc có giá trị là: 1.990.000đồng, tổng giá trị tài sản là: 3.980.000đồng. Tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại. Đối chiếu pháp luật hình sự Nguyễn Phú Đ đã phạm tội "Trộm cắp tài sản", được quy định tại khoản 1 Điều 173 - Bộ luật hình sự năm 2015. Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có cơ sở pháp lý.

Như vậy hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của Nguyễn Phú Đ đã phạm vào tội: "Trộm cắp tài sản", được quy định tại khoản 1 Điều 173 - Bộ luật hình sự năm 2015. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội, do vậy cần thiết xử lý bị cáo bằng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng : trong vụ án này bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, thể hiện có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải, tài sản đã trả cho Công ty TNHH K1 và người đại diện hợp pháp của công ty cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 - Bộ luật hình sự năm 2015. Tòa xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhi ều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Căn cứ Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của hội đồng Thẩm phán TANDTC cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo ngoài xã hội, giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý giáo dục bị cáo trở thành người tốt.

[5] Về phần dân sự: Chị Nguyễn Thị Hồng N là người đại diện cho Công ty TNHH K6 nhận lại toàn bộ tài sản, không có yêu cầu gì khác, do vậy Tòa không xem xét.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về các vấn đề khác: Đối với Nguyễn Văn Q11 điều tra xác định hiện Quyền chưa có tiền án tiền sự. Việc Q12 cắp 01 chiếc điện thoại Vismart Live trên có giá trị: 990.000 đồng (chưa đến 2.000.000 đồng) chưa đủ cấu thành tội trộm cắp tài sản nên chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngày 30/4/2024, Công an huyện T Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 95/QĐ-XPHC đối với hành vi vi phạm của Quyền số tiền 2.500.000 đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ là có căn cứ đúng quy định. Toà không xét.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 231, Điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phú Đ phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 - Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phú Đ13 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Phú Đ cho Ủy ban nhân dân xã Đ15, huyện Đ, Hà Nội quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 2 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo các quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 20, 22, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm .

Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 231, Điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo, người bị hại có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án .

Về việc thi hành án: Căn cứ Điều 26 Luật thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định của Toà án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận

  • - TANDTP Hà Nội;
  • - VKSNDTP Hà Nội;
  • - VKSND huyện Thanh Trì;
  • - Công an huyện Thanh Trì;
  • - THADS huyện Thanh Trì;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại (nếu có);
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (nếu có);
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa.

Nguyễn Thị Kim Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 111/2024/HSST ngày 17/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 111/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger