|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 111/2024/HS-ST Ngày: 30-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Duy Hải.
Thẩm phán: Ông Đinh Hải Toàn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Phi Long, bà Trần Thị Kim Thuỷ và bà Đỗ Thị Xanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Quốc Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý 83/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị Mai C, sinh ngày 17/9/1986, tại thành phố Hải Phòng; nơi thường trú: thôn K, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Giám đốc Công ty TNHH T5; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: nam; con ông: Nguyễn Văn T và bà: Vũ Thị N; có chồng là: Nguyễn Ngọc G và có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân:
- + Tại Bản án số 142 ngày 26/7/2023, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 20 năm tù, về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- + Tại Bản án số 157/2024/HS-ST ngày 01/8/2024, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 18 năm tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp với hình phạt 20 năm tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại Bàn án số 142 ngày 26/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, buộc bị cáo C phải chấp hành hình phạt chung là 30 năm tù.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 17/9/2022, đang chấp hành án (theo Bản án số 142 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng) tại Trại giam N2. Hiện đã điều chuyển đến Trại tạm giam Công an tỉnh Q, để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử, hiện giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt.
- Bị hại:
- Chị Ngô Thị H, sinh năm 1976; địa chỉ: khu T, phường T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
- Anh Trần Văn T1, sinh năm 2001; địa chỉ: khu T, phường T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
- Anh Ngô Bá H1, sinh năm 2001; địa chỉ: khu T, phường T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
- Anh Lê Đức N1, sinh năm 1990; địa chỉ: khu T, phường T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
- Chị Ngô Thị V, sinh năm 1971; địa chỉ: khu T, phường T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
- Anh Tống Văn C1, sinh năm 1993; địa chỉ: khu T, phường T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
- Anh Tống Văn T2, sinh năm 1991; địa chỉ: khu T, phường T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
- Chị Đỗ Thị S, sinh năm 1973; địa chỉ: khu T, phường T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
- Anh Trần Văn D, sinh năm 1977; địa chỉ: khu T, phường T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt (có đơn xin xử vắng mặt).
- Chị Trần Thị H2, sinh năm 1980; địa chỉ: khu T, phường T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
- Chị Đỗ Thị H3, sinh năm 1965; địa chỉ: khu T, phường T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
- Chị Tống Thị U, sinh năm 1987; địa chỉ: khu T, phường T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
- Chị Phạm Thị H4, sinh năm 1978; địa chỉ: khu T, phường T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
- Anh Lê Anh T3, sinh năm 2002; địa chỉ: khu T, phường T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
- Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1986, địa chỉ: khu Đ, phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương, vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Phạm Quang V1, sinh năm 2001; địa chỉ: khu T, phường T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị T4, sinh năm 1974; địa chỉ: khu T, phường T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
- Anh Lê Trường G1, sinh năm 1994, địa chỉ: khu T, phường T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Anh Đinh Văn H5, sinh năm 1984, vắng mặt.
- Chị Trần Thị H6, sinh năm 1999, vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh năm 1998, vắng mặt.
- Anh Trần Ngọc S1, sinh năm 1994, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị Mai C là Giám đốc Công ty TNHH T5 (gọi tắt là Công ty T5), đăng ký trụ sở tại số E đường H, phường S, quận H, thành phố Hải Phòng. Ngày 22/01/2022, Công ty T5 được Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố H, cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, có ngành nghề kinh doanh chính là đại lý bán vé máy bay, vé tàu; ngoài ra công ty còn hoạt động dịch vụ hỗ trợ kinh doanh khác liên quan đến dịch vụ xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ tư vấn hồ sơ làm visa, xin cấp đổi giấy phép lao động
Mặc dù Công ty T5 không có chức năng và giấy phép đưa người đi xuất khẩu lao động, nhưng do cần tiền để trả nợ và chi tiêu cá nhân, nên trong khoảng thời gian từ tháng 4/2022 đến tháng 8/2022, tại phường T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Thị Mai C đã dùng thủ đoạn gian dối, giới thiệu công ty mình có khả năng đưa người đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, để chiếm đoạt tiền của những người có nhu cầu đi lao động xuất khẩu. Chi chỉ đạo Trần Thị H6 (sinh năm 1999, trú tại: thôn E, xã V, V, Hải Phòng) và Nguyễn Thị Ngọc Á (sinh năm 1998, trú tại: thôn T, xã T, T, Thái Bình) là nhân viên của C, lập các “hợp đồng dịch vụ tư vấn visa”, mục đích là để hợp thức giấy tờ, và khi các bị hại ký hợp đồng sẽ nhầm tường đó là hợp đồng đi lao động xuất khẩu. Sau đó, C trực tiếp ký hợp đồng, thu giấy tờ cá nhân và chỉ đạo H6, Á viết phiếu thu tiền đặt cọc của các bị hại, mỗi người từ 65.800.000đồng đến 125.000.000đồng, C trực tiếp nhận tiền mặt và qua chuyển khoản đến tài khoản Ngân hàng do Trần Ngọc S1 (là em họ C) mở hộ C. Sau khi thu tiền đặt cọc, để tạo thêm sự tin tưởng của các bị hại, C đã hướng dẫn một số người đi học tiếng Hàn Quốc, khám sức khỏe, làm hộ chiếu, thu thêm tiền nói làm chứng chỉ nghề hàn. Sau đó, C đã không làm bất cứ hoạt động gì khác để những người này được đi xuất khẩu lao động. Số tiền chiếm đoạt được, C đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Cụ thể số tiền và bị hại như sau:
- Chị Ngô Thị H, số tiền 65.800.000đồng;
- Anh Trần Văn T1, số tiền 65.800.000đồng;
- Anh Ngô Bá H1, số tiền 65.800.000đồng;
- Anh Lê Đức N1, số tiền 88.700.000đồng;
- Anh Nguyễn Văn L, số tiền 88.700.000đồng;
- Chị Ngô Thị V, số tiền 88.700.000đồng;
- Chị Trần Thị H2, số tiền 125.000.000đồng;
- Anh Trần Văn D, số tiền 95.000.000đồng;
- Chị Đỗ Thị S, số tiền 90.000.000đồng;
- Chị Đỗ Thị H3, số tiền 90.000.000đồng;
- Anh Tống Văn C1, số tiền 95.000.000đồng;
- Anh Tống Văn T2, số tiền 95.000.000đồng;
- Chị Tống Thị U, số tiền 90.000.000đồng;
- Chị Phạm Thị H4, số tiền 100.000.000đồng;
- Anh Lê Anh T3, số tiền 95.000.000đồng.
Tổng số tiền Nguyễn Thị Mai C đã chiếm đoạt của 15 bị hại trên là 1.338.500.000đ (Một tỷ ba trăm ba mươi tám triệu, năm trăm nghìn đồng).
Những bị hại trên đều khai: Thông qua tìm hiểu và trực tiếp được Nguyễn Thị Mai C giới thiệu là Giám đốc công ty T5, chuyên làm hồ sơ đưa người đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc; được C ký hợp đồng đặt cọc và hứa hẹn, cam kết sẽ đưa sang Hàn Quốc lao động, nên đã tin tưởng đóng tiền cho C. Khi đến thời hạn đã cam kết, C không đưa được ai sang Hàn Quốc lao động, chỉ hứa hẹn và nói chờ đợi. Đến tháng 9/2022, biết tin C bị Công an thành phố H bắt về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (đưa người đi xuất khẩu lao động), lúc này mới biết bị C lừa, nên đã trình báo Cơ quan Công an.
Cơ quan điều tra đã tiếp nhận, thu giữ: 07 bản gốc hợp đồng dịch vụ tư vấn visa; 07 phiếu thu; 01 biên bản thanh lý hợp đồng có chữ viết, chữ ký xác nhận của Nguyễn Thị Mai C, do những người bị hại giao nộp.
Tại bàn Kết luận giám định số 274/KL-KTHS ngày 27/02/2024, của Phòng K - Công an tỉnh Q, kết luận: Chữ ký mang tên Giám đốc Nguyễn Thị Mai C trên các Hợp đồng dịch vụ tư vấn visa, biên bản thanh lý hợp đồng, Phiếu thu so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Thị Mai C là do cùng một người ký, viết ra.
Kết quả xác minh điều tra tại các cơ quan, tổ chức liên quan: Cục Q ngoài nước - Bộ L1 xác nhận không cấp phép cho Công ty T5 đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; Trong hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quản lý về người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài của Cục Q ngoài nước, không có thông tin, dữ liệu xuất cảnh của các trường hợp trên.
Quá trình điều tra, Nguyễn Thị Mai C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. C khai: Chi có thỏa thuận làm môi giới với Đinh Văn H5 (sinh năm 1984, trú tại: số C, ngõ B đường T, phường T, quận N, thành phố Hà Nội) nhận hồ sơ những người có nhu cầu đi xuất khẩu lao động, sau đó chuyển cho H5, C hưởng lợi mỗi hồ sơ là 1.000USD. C đã chuyển hồ sơ của 04 người gồm V1, T1, H1 và N1 cho H5, số còn lại chưa có hoạt động gì. Số tiền chiếm đoạt được Chi dùng 700.000.000đồng để trả nợ, số còn lại chi phí dậy tiếng Hàn Quốc và chi tiêu cá nhân hết. Còn anh Đinh Văn H5 khai: Làm công việc tự do, không thỏa thuận với C làm hồ sơ xuất khẩu lao động, chỉ hướng dẫn cho người có nhu cầu làm hồ sơ đi du lịch, ghép tour, hưởng 1.700.000đồng/người. Đã nhận của C 04 hồ sơ người ở Q gồm V1, H1, T1 và N1, thấy hồ sơ của V1, T1 và H1 có đủ bằng cấp, nên đã tư vấn cho C những hồ sơ này có khả năng đi xuất khẩu lao động theo diện E7 và cần phải có thêm chứng chỉ nghề, để C tư vẫn lại cho họ lựa chọn; một số hồ sơ khác không đủ điều kiện đã trả lại C. Chưa nhận tiền của C.
Tại phiên tòa, bị cáo C đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Những người bị hại: Chị Ngô Thị H, anh Ngô Bá H1, anh Lê Đức N1, chị Ngô Thị V, chị Trần Thị H2, chị Đỗ Thị S, chị Đỗ Thị H3, chị Tống Thị U, chị Phạm Thị H4, anh Lê Anh T3, có lời khai tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo về nội dung vụ án.
Những người liên quan: Anh Phạm Quang V1, chị Nguyễn Thị T4 và anh Lê Trường G1 vắng mặt tại phiên toà, có lời khai tại Cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại về nội dung vụ án.
Những người làm chứng: Anh Đinh Văn H5, chị Trần Thị H6, chị Nguyễn Thị Ngọc Á và anh Trần Ngọc S1, có lời khai tại Cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại về nội dung vụ án.
Tại Cáo trạng số 3984/CT-VKSQN-P2 ngày 05/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố Nguyễn Thị Mai C về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 56 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị Mai C từ 13 năm đến 14 năm tù, tổng hợp với hình phạt 30 năm tù tại Bản án số 157/2024/HS-ST ngày 01/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, buộc bị cáo C phải chấp hành hình phạt chung là 30 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 17/9/2022.
Về dân sự: buộc bị cáo C phải có nghĩa vụ trả lại cho 15 bị hại tổng số tiền là 1.338.500.000đ (Một tỷ ba trăm ba mươi tám triệu, năm trăm nghìn đồng).
Về vật chứng: không thu giữ. Về hình phạt bổ sung: không đề nghị.
Tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh và bản luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng: các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Q, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về người bào chữa: Toà án đã chỉ định người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Mai C theo đúng quy định, nhưng bị cáo Nguyễn Thị Mai C có đơn từ chối người bào chữa do Toà án chỉ định và tại phiên toà bị cáo C cũng từ chối người bào chữa để tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, căn cứ khoản 3 Điều 77 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án chấm dứt việc chỉ định người bào chữa cho bị cáo.
[2] Về hành vi của bị cáo thể hiện: tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Công ty TNHH T5 do Nguyễn Thị Mai C làm giám đốc, mặc dù không có chức năng và giấy phép đưa người đi xuất khẩu lao động. Nhưng do cần tiền để trả nợ và chi tiêu cá nhân, nên trong khoảng thời gian từ ngày 05/4/2022 đến ngày 05/8/2022, tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, C đã dùng thủ đoạn gian dối, giới thiệu rằng Công ty mình có khả năng đưa người đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc. Tin tưởng C, 15 người gồm các anh chị: Ngô Thị H, Trần Văn T1, Ngô Bá H1, Lê Đức N1, Ngô Thị V, Nguyễn Văn L, Tống Văn C1, Tống Văn T2, Đỗ Thị S, Trần Văn D, Trần Thị H2, Đỗ Thị H3, Tống Thị U, Phạm Thị H4 và Lê Anh T3 đã ký hợp đồng với C, rồi nộp tiền đặt cọc theo yêu cầu của C, mỗi người từ 65.800.000đồng đến 125.000.000đồng để được C làm thủ tục đi xuất khẩu lao động cho bản thân các anh chị hoặc cho người thân của các anh chị. Sau khi thu được tiền đặt cọc, C đã không làm bất cứ hoạt động gì để những người này và người thân của những người này được đi xuất khẩu lao động. Tổng số tiền C đã chiếm đoạt của những người trên là 1.338.500.000 (Một tỷ ba trăm ba mươi tám triệu, năm trăm nghìn) đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thị Mai C đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội, gây bất bình cho người dân, nên cần phải xử lý nghiêm.
[4] Về nhân thân: bị cáo có nhân thân xấu; chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội 02 lần trở lên, nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt: khi lượng hình, căn cứ vào nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật, nhưng dù có xem xét giảm nhẹ hình phạt đến đâu thì việc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết.
Tại Bản án số 157/2024/HS-ST ngày 01/8/2024, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt bị cáo C 18 năm tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp với hình phạt 20 năm tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại Bản án số 142 ngày 26/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, buộc bị cáo C phải chấp hành hình phạt chung là 30 năm tù. Bản án số 157/2024/HS-ST trên đã có hiệu lực pháp luật và đã có quyết định thi hành án, do đó cần tổng hợp hình phạt của bản án ngày hôm nay với hình phạt của Bản án số 157/2024/HS-ST ngày 01/8/2024 để buộc bị cáo C phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo hiện không có tài sản và không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: những người bị hại yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền đã chiếm đoạt, vì vậy cần buộc bị cáo phải trả lại số tiền mà bị cáo đã chiếm đoạt cho các bị hại, cụ thể buộc bị cáo phải trả cho: Chị Ngô Thị H số tiền 65.800.000đồng; anh Trần Văn T1 số tiền 65.800.000đồng; anh Ngô Bá H1 số tiền 65.800.000đồng; anh Lê Đức N1 số tiền 88.700.000đồng; anh Nguyễn Văn L số tiền 88.700.000đồng; chị Ngô Thị V số tiền 88.700.000đồng; chị Trần Thị Hằng S2 tiền 125.000.000đồng; anh Trần Văn D số tiền 95.000.000đồng; chị Đỗ Thị S số tiền 90.000.000đồng; chị Đỗ Thị H3 số tiền 90.000.000đồng; anh Tống Văn C1 số tiền 95.000.000đồng; anh Tống Văn T2 số tiền 95.000.000đồng; chị Tống Thị U số tiền 90.000.000đồng; chị Phạm Thị H4 số tiền 100.000.000đồng; anh Lê Anh T3 số tiền 95.000.000đồng.
[8] Về vật chứng: không thu giữ nên không đề cập xử lý.
[9] Nội dung khác: đối với Trần Thị H6, Nguyễn Thị Ngọc Á là nhân viên làm việc tại công ty do C làm giám đốc, chỉ được Chi trả lương hàng tháng, không biết rõ về các hoạt động của công ty và thực hiện công việc theo yêu cầu của C, không được bàn bạc và hưởng lợi gì; đối với Trần Ngọc S1 (là cháu họ của C) cho C mượn tài khoản ngân hàng nhưng không biết C sử dụng vào việc gì, không được hưởng lợi từ việc trên, do đó Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.
[10] Luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo về tội danh, điều khoản truy tố, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đề nghị áp dụng là có căn cứ, phù hợp với nội dung của vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[11] Về án phí và quyền kháng cáo: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự; bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
- Về tội danh: tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Mai C phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Về hình phạt: xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Mai C 13 (mười ba) năm tù, tổng hợp với hình phạt 30 năm tù tại Bản án số 157/2024/HS-ST ngày 01/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, buộc bị cáo C phải chấp hành hình phạt chung là 30 (ba mươi) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 17/9/2022.
- Về trách nhiệm dân sự: áp dụng: khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585; khoản 1 Điều 589; Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015.
Buộc bị cáo Nguyễn Thị Mai C phải có nghĩa vụ trả lại cho 15 bị hại tổng số tiền là 1.338.500.000đ (Một tỷ ba trăm ba mươi tám triệu, năm trăm nghìn đồng), cụ thể trả cho: Chị Ngô Thị H số tiền 65.800.000đồng; anh Trần Văn T1 số tiền 65.800.000đồng; anh Ngô Bá H1 số tiền 65.800.000đồng; anh Lê Đức N1 số tiền 88.700.000đồng; anh Nguyễn Văn L số tiền 88.700.000đồng; chị Ngô Thị V số tiền 88.700.000đồng; chị Trần Thị Hằng S2 tiền 125.000.000đồng; anh Trần Văn D số tiền 95.000.000đồng; chị Đỗ Thị S số tiền 90.000.000đồng; chị Đỗ Thị H3 số tiền 90.000.000đồng; anh Tống Văn C1 số tiền 95.000.000đồng; anh Tống Văn T2 số tiền 95.000.000đồng; chị Tống Thị U số tiền 90.000.000đồng; chị Phạm Thị H4 số tiền 100.000.000đồng; anh Lê Anh T3 số tiền 95.000.000đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Thị Mai C phải nộp 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 52.155.000₫ (năm mươi hai triệu, một trăm năm mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự.
- Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo và những bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Những bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Duy Hải |
Bản án số 111/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 111/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Mai Chi phạm tội phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
