TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 111/2024/HS-ST
Ngày: 17-09-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đăng Tân
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Xuân Mai
- Ông Hoàng Văn Định
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Mai Chiến Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 123/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Phước L, sinh ngày 1986 tại Thành phố Hồ Chí Minh Giang; cư trú tại: đường C, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hùng S (đã chết) và bà Trần Thị Hồng H; có vợ và 02 con (sinh năm 2007 và 2017); nhân thân: Ngày 23/11/2011, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 tháng, ngày 05/01/2015, Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 tháng; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 12 tháng 3 năm 2024; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 56 phút ngày 12/3/2024, Tổ tuần tra Công an Phường 5, Quận 3 tuần tra đi đến trước số 203 Võ Văn Tần, Phường 5, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện Nguyễn Phước L có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra thu giữ trong túi quần sau bên phải của L có 01 tờ vé số kiến thiết Trà Vinh ghi ngày 08/3/2024. Trên tờ vé số có dán băng dính màu trắng đục, dưới lớp keo của băng dính có 01 bịch nylon bên trong chứa tinh thể không màu (nghi là ma túy). Tổ tuần tra đã đưa L cùng tang vật về trụ sở Công an Phường 5, Quận 3 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 3, Nguyễn Phước L khai nhận như sau: Do bản thân nghiện ma túy nên tối ngày 12/3/2024, L đến trước nhà số 310 Võ Văn Tần, Phường 5, Quận 3 gặp người phụ nữ tên “Mập” (không rõ lai lịch) để mua 100.000 đồng ma túy về sử dụng. L khai nhận đã mua ma túy của “Mập” 03 lần, mỗi lần mua với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, L đang đi bộ về đến trước số 203 Võ Văn Tần, Phường 5, Quận 3 thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, thu giữ số ma túy như nêu trên.
Bản cáo trạng số 118/CT-VKS-Q3 ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Nguyễn Phước L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Đối với những người bán ma túy cho bị cáo, do chưa rõ lai lịch nên sẽ xử lý sau nếu sau này xác minh được.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, trình bày lời luận tội, đánh giá tính chất, mức độ và hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị:
Tuyên bố bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy vật chứng liên quan đến ma túy thu giữ của bị cáo, trả lại chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J6 cho bị cáo.
Bị cáo không tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án khoan hồng vì đã nhận thức được hành vi sai phạm của mình và quyết tâm sửa chữa, không vi phạm pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an Quận 3, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Kiểm sát viên thực hiện hành vi, quyết định tố tụng, thu thập chứng cứ, tài liệu theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình tiến hành tố tụng và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng, việc thu thập chứng cứ, tài liệu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt quả tang, vật chứng thu giữ và tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 22 giờ 56 phút ngày 12/3/2024, bị cáo đi bộ đến trước nhà số 310, đường Võ Văn Tần thuộc Phường 5, Quận 3 gặp người phụ nữ để mua ma túy về sử dụng. Sau khi mua được, trên đường về đến trước nhà số 203, đường Võ Văn Tần, Phường 5, Quận 3 thì bị lực lượng công an kiểm tra, phát hiện trong túi quần sau bên phải của bị cáo số ma túy mà bị cáo vừa mua được nêu trên.
[3] Kết luận giám định số 3475/KL-KTHS ngày 18/3/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 01 gói được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Phước L và hình dấu Công an Phường 5, Quận 3, bên trong có tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1133g, loại Methamphetamine. Do đó, hành vi của Nguyễn Phước L đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh và Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vào các năm 2011 và 2015 nhưng bị cáo vẫn tiếp tục mua ma túy về tàng trữ để sử dụng, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội nghiêm trọng. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ hình phạt.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử không áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: Số ma túy và tờ vé số tỉnh Trà Vinh ngày 08/3/2024 thu giữ của bị cáo là vật cấm tàng trữ, lưu hành trái phép và không có giá trị sử dụng, nên áp dụng khoản 1, các điểm a và c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy.
[8] Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J6 do chưa chứng minh được sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo theo quy định tại khoản 1, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[9] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố Nguyễn Phước L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017,
Xử phạt Nguyễn Phước L 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12 tháng 3 năm 2024.
2. Áp dụng khoản 1, các điểm a và c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu huỷ mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định được niêm phong ký hiệu 105/24, có chữ ký của giám định viên và cán bộ điều tra, bên trong có chứa tinh thể không màu có khối lượng 0,0645g và tờ vé số tỉnh Trà Vinh ngày 08/3/2024; trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J6, màu tím, số Imei 1: 358465091295710, số Imei 2: 358465091295718, kèm sim điện thoại số 0567.219.xxx (theo Quyết định chuyển vật chứng số 104/QĐ-VKS-Q3 ngày 21/08/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân Quận 3).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng, nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Đăng Tân |
Bản án số 111/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 111/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
