Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NINH BÌNH

TỈNH NINH BÌNH

Bản án số: 111/2024/HS-ST

Ngày 08-8-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thanh Phương.

Các hội thẩm nhân dân: ông Đặng Đình Phương và ông Bùi Văn Mão

Thư ký phiên tòa: bà Tống Thị Huê – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: ông Bùi Hoàng Thao - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 91/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Mạnh H sinh năm 1986 tại tỉnh Ninh Bình

Nơi cư trú: số nhà A, đường C, phố P, phường N, thành phố N; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn N và bà Mai Thị H1 ; có vợ Thiều Thị T và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án: Không; tiền sự: Tại quyết định xử phạt hành chính số 88/ QĐ-XPHC ngày 03/11/2023, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường N, thành phố N xử phạt Phạm Mạnh H 4.000.000 đồng về hành vi “ Sử dụng công cụ kích điện để khai thác thủy sản đối với trường hợp không sử dụng tàu cá”; nhân thân: (1) Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 16/QĐ-XPHC ngày 18/02/2017, Công an phường N, thành phố N xử phạt Phạm Mạnh H cảnh cáo về hành vi “ Sử dụng trái phép chất ma túy”. (2) Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 09/QĐ-XPHC ngày 10/9/2018, Công an phường N, thành phố N xử phạt Phạm Mạnh H 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. (3) Tại quyết định xử phạt hành chính số 197/ XPHC ngày 30/9/2020, Công an thành phố N xử phạt Phạm Mạnh H 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. (4) Tại bản án số 05/2021/HSST ngày 12/01/2021, Tòa án nhân dân thành phố Ninh xử

2

phạt Phạm Mạnh H 06 tháng tù giam về tội “ Trộm cắp tài sản”; bị bắt tạm giữ ngày 01/4/2024, đến ngày 10/4/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N; có mặt.

- Bị hại: Ủy ban nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình; địa chỉ: số C, đường L, phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình;

Người đại diện hợp pháp của bị hại: ông Nguyễn Quốc T1 sinh năm 1979; nơi cư trú: số B, đường H, phố P, phường P, tỉnh Ninh Bình là người đại diện theo ủy quyền theo Quyết định ủy quyền về việc tham gia tố tụng số 1097/ QĐ-UBND ngày 02/4/2024 và giấy ủy quyền ngày 03/4/2024); có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Phạm Thị N1 sinh năm 1961; nơi cư trú : số B, ngõ C, đường H, phố P, phường P, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.
  • + Chị Thiều Thị T sinh năm 1993; nơi cư trú: số G, ngõ A, đường C, phố P, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

- Người làm chứng:

  • + Bà Hà Thị V sinh năm 1976; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 28/3/2024, Phạm Mạnh H đi ra vỉa hè đường 30/6 bên phía sông V thì thấy trên vỉa hè có các nắp hố ga chất liệu bằng gang, hình tròn, đường kính 64 cm. Lúc này H nảy sinh ý định trộm cắp nắp hố ga để bán lấy tiền tiêu xài. H về nhà điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Sym Elegant, biển kiểm soát 35B1-065.76 đi ra đường C sau đó đi lên vỉa hè và dừng xe ở vị trí nắp hố ga bên bờ sông V (đối diện hồ L) thuộc phường N, thành phố N. H nhặt 01 cành cây dài khoảng 20 cm và 01 viên đá kích thước 2 x 3 cm trên vỉa hè, dùng cành cây để bẩy nắp hố ga lên, dùng viên đá để chèn vào, sau đó H tiếp tục dùng cành cây đẩy sâu vào nắp hố ga và bẩy lên. Sau khi bẩy được nắp hố ga lên H dùng hai tay bê đặt lên yên xe mô tô rồi điều khiển xe đi tiếp đến vị trí nắp hố ga tiếp theo cách hố ga vừa trộm cắp được khoảng 30-50 mét về hướng Thanh Hóa đi Hà Nội. H tiếp tục trộm nắp hố ga tại đây sau đó bỏ lên yên xe mô tô. Sau khi trộm cắp được 02 nắp hố ga, H điều khiển xe đến cửa hàng thu mua phế liệu của bà Phạm Thị N1 tại gần nghĩa trang Đ, phường P, T 02 nắp hố ga trên cho bà N1 với giá 600.000 đồng.

Bằng cách thức trên khoảng 18 giờ 30 ngày 30/3/2024, trên vỉa hè đường C giáp hồ L, phường N, thành phố N, H tiếp tục lấy trộm được 02 nắp hố ga sau đó điều khiển xe đi tìm cửa hàng thu mua phế liệu để bán. Khi H điều khiển xe đến

3

đoạn đường gần sân bóng P thì xe bị hỏng nên H mang 02 chiếc nắp hố ga vừa trộm cắp được đến nhà chị Hà Thị V sinh năm 1976, trú tại phường P để bán. Do chị V không mua nên H gửi nắp hố ga lại và hẹn quay lại lấy sau khi sửa được xe. Ngày 01/4/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố N triệu tập Phạm Mạnh H lên làm việc, tại Cơ quan Điều tra H thừa nhận hành vi phạm tội và xin đầu thú về hành vi của mình. Ngoài ra H giao nộp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Sym Elegant, biển kiểm soát 35B1-065.76 cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố N. Chị Hà Thị V giao nộp 02 nắp hố ga bằng kim loại, hình tròn, trọng lượng 47kg/1 chiếc.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 17 ngày 08/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thành phố N kết luận: 04 chiếc nắp hố ga chất liệu bằng gang, hình tròn, đường kính 64cm có giá trị 11.016.000 đồng.

Quá trình Điều tra, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố N đã xử lý tài sản thu giữ trong vụ án này như sau:

  • - Trả lại 02 nắp hố ga chất liệu bằng gang, hình tròn, đường kính 64cm do chị Hà Thị V giao nộp cho anh Nguyễn Quốc T1 là đại diện hợp pháp của UBND thành phố N.
  • - Trả lại chiếc xe mô tô Sym Elegant, biển kiểm soát 35B1-065.76 cho chị Thiều Thị T (là vợ H).

Về trách nhiệm dân sự: anh T1 đã nhận lại tài sản 02 nắp hố ga chất liệu bằng gang, hình tròn, đường kính 64cm và yêu cầu H phải bồi thường số tiền 5.508.000 đồng là giá trị 02 nắp hố ga H đã trộm cắp được ngày 28/3/2024 nhưng Cơ quan cảnh sát Điều tra không thu hồi được.

Tại cáo trạng số 99/CT-VKSNDTPNB ngày 25/6/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo Phạm Mạnh H về tội “trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Phạm Mạnh H phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

  • - Áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Mạnh H từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 01/4/2024
  • - Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 587, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015: buộc bị cáo Phạm Mạnh H có trách nhiệm bồi thường cho Ủy ban nhân dân thành phố N số tiền 5.508.000 đồng;

4

  • - Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo H đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo H đã khai nhận: Trong hai ngày 28/4/2024 và ngày 30/4/2024 tại khu vực đường C, phố V, phường N, thành phố N, Phạm Mạnh H 02 lần có hành trộm cắp tài sản mỗi lần trộm cắp được 02 nắp hố ga bằng kim loại, hình tròn nặng khoảng 47 kg/1 chiếc có trị giá 11.016.000 đồng.

Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại ông Nguyễn Quốc T1 xác định trong hai ngày 28/4 và 30/4 Ủy ban nhân dân thành phố N mỗi ngày bị mất trộm 02 nắp hố ga bằng kim loại có tồng trị giá 11.016.000 đồng tại khu vực khu đường C, phố V, phường N, thành phố N. Ông đã nhận lại 2 nắp hố ga và yêu cầu bị hại bồi thường giá trị 2 nắp ga không thu được là 5.008.000 đồng.

Trong quá trình điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị N1 xác định ngày 28/3/2024, bà mua của H 02 nắp hố ga với giá 600.000 đồng, bà N1 không biết đây là tài sản do H trộm cắp mà có. Sau khi mua 02 nắp hố ga trên bà N1 đã bán lại cho 01 xe thu mua phế liệu, không thu giữ.

Tại phiên tòa chị Thiều Thị T xác định chị đã sử dụng tiền riêng của chị mua 01 chiếc xe máy Sym Elegant, biển kiểm soát 35B1-065.76 của anh P, chị T2 để đi làm nhưng không cho bị cáo H biết. Chị đã nhận lại chiếc xe máy trên và không có yêu cầu, đề nghị gì .

Trong quá trình điều tra, người làm chứng là chị Hà Thị V xác định ngày 30/3/2024, H mang 02 nắp hố ga đến bán cho chị nhưng chị V không mua nên H xin để nhờ để quay lại lấy sau. Ngày 01/4/2024 chị V giao nộp lại số tài sản trên cho Cơ quan cảnh sát Điều tra.

Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi phạm tội của bị cáo và trách nhiệm hình sự: Lời khai tại phiên toà của bị cáo Phạm Mạnh H phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng; phù hợp với bản ảnh xác định hiện trường, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ nêu trên đủ căn cứ kết luận: Trong hai ngày 28/4/2024 và ngày 30/4/2024 tại khu vực khu Đ, phường N, thành phố N Phạm Mạnh H 02 lần có hành vi trộm cắp tài sản của

5

Ủy ban nhân dân thành phố N, mỗi lần trộm cắp được 02 nắp hố ga bằng kim loại, hình tròn nặng khoảng 47Kg/1 chiếc. Tổng số tài sản H trộm cắp được là 04 nắp hố ga có tổng trị giá 11.016.000 đồng.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Phạm Mạnh H phạm tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo theo tội danh và Điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

  • - Bị cáo H đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trong các ngày 28/4/2024 và ngày 30/3/2024, các lần trộm cắp đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
  • - Bị cáo sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đầu thú hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 và khoản 2 của Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • - Về nhân thân: Bị cáo H có 01 tiền sự về hành vi “ Sử dụng công cụ kích điện để khai thác thủy sản đối với trường hợp không sử dụng tàu cá”; đã bị kết án về tội “ Trộm cắp tài sản ” đã được xóa án tích và nhiều lần bị xử lý vi phạm hành chính tính đến ngày phạm tội lần này được coi chưa bị xử lý vi phạm hành chính.

Sau khi xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo; buộc phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo thành người có ích cho gia đình, xã hội và đáp ứng yêu cầu phòng ngừa tội phạm chung.

Hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự: “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000

6

đồng ...”. Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

[2] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu, đề nghị gì đối với 02 nắp hố ga chất liệu bằng gang, hình tròn đã nhận lại. 02 nắp hố ga H đã trộm cắp được ngày 28/2/2024 không thu hồi được nên ông T1 yêu cầu H phải bồi thường giá trị 02 nắp hố ga số tiền 5.508.000 đồng. Bị hại H cũng nhất trí bồi thường số tiền trên nhưng chưa bồi thường được. Do đó bị cáo H phải có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại số tiền 5.508.000 đồng là phù hợp với quy định tạo các Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585 và Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015

[3 ] Về vấn đề khác:

Đối với chiếc xe mô tô Sym Elegant, biển kiểm soát 35B1-065.76 đăng ký xe mang tên Vũ Văn B, sinh năm 1973, trú tại phường Đ, thành phố N. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên anh B đã cho vợ chồng anh Vũ Hồng P1, chị Nguyễn Thị T3 trú tại phố P, phường N, thành phố N. Sau đó anh P1, chị T3 đã bán chiếc xe trên cho chị Thiều Thị T ( vợ bị cáo H) nhưng không làm giấy tờ mua bán xe và làm thủ tục sang tên xe. Ngày 28 và 30/3/2024, bị cáo H sử dụng chiếc xe trên để đi trộm cắp tài sản chị T không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của H. Chiếc xe là phương tiện đi làm của chị T nên Cơ quan Điều tra đã trả lại chiếc xe và đăng ký xe cho chị T là có căn cứ.

Đối với cành cây để bẩy nắp hố ga và viên đá H sử dụng trong 02 lần trộm cắp tài sản. Cơ quan Cảnh sát Điều tra không thu giữ nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với bà Phạm Thị N1 là người mua của H 02 nắp hố ga với giá 600.000 đồng ngày 28/3/2024 và chị Hà Thị V là người cho H để nhờ 02 nắp hố ga ở nhà chị V ngày 30/3/2024. Bà N1 và chị V không biết đây là tài sản do H trộm cắp mà có nên không có căn cứ để xử lý.

[4] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và các Điểm a, c Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. bị cáo H bị kết án phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[5] Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[6] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình Điều tra và tại phiên tòa

7

bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 173; Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự.

Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự năm 2015.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và các Điểm a, c Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Mạnh H phạm tội “trộm cắp tài sản”

Xử phạt bị cáo Phạm Mạnh H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam là ngày 01/4/2024.

2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Phạm Mạnh H có trách nhiệm bổi thường thiệt hại về tài sản cho Ủy ban nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình số tiền 5.008.000 đồng (năm triệu không trăm linh tám nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2025, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3.Về án phí: bị cáo Phạm Mạnh H nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (08/8/2024); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9

8

của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo
  • - Bị hại.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ
  • liên quan đến vụ án;
  • -TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình
  • -VKSND thành phố Ninh Bình
  • - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Bình
  • - Chi cục THA DS thành phố Ninh Bình.
  • - Cơ quan điều tra và Cơ quan THAHS
  • Công an thành phố Ninh Bình
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thanh Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 111/2024/HS-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 111/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Minh H phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger