Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

Bản án số: 111/2024/HS-PT

Ngày: 17/10/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hiếu
Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Bắc
Ông Đào Trọng Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thanh Trúc - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nghiêm Thị Lan Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 126/2024/HS-PT ngày 29/7/2024 đối với các bị cáo Nguyễn Phú T, Trần Thị Bạch K, Huỳnh Thị Thu T1, Lê Công T2, Trương Văn S, Nguyễn Thị Thúy O, Hồ Thị Thu T3, Ngô Thị Cẩm H do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 143/2023/HS-ST ngày 28/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Các bị cáo có kháng cáo:

1. NGUYỄN PHÚ T – Sinh năm 1971, tại Bà Rịa – Vũng Tàu.

Nơi đăng ký thường trú: Ấp P, xã L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Chỗ ở: Như trên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Nguyễn Văn T4 (đã chết); Mẹ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1952; Vợ: Đỗ Thị Kim T5, sinh năm 1974 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 1992, con nhỏ nhất sinh năm 2004.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị bắt giữ từ ngày 03-01-2023 đến ngày 12-01-2023 bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt tại phiên tòa).

2. TRẦN THỊ BẠCH K – Sinh năm 1978, tại Bà Rịa – Vũng Tàu.

Nơi đăng ký thường trú: B H, khu phố C, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Chỗ ở: Như trên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Trần Thanh T6, sinh năm 1945 (đã chết); Mẹ: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1951 (đã chết); Có 01 con sinh năm 2000.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị bắt giữ từ ngày 03-01-2023 đến ngày 12-01-2023 bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt tại phiên tòa).

3. HUỲNH THỊ THU T1 – Sinh năm 1980, tại Tây Ninh.

Nơi đăng ký thường trú: Khu phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Chỗ ở: 1645/1/4 đường C, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Huỳnh Văn B, sinh năm 1954; Mẹ: Nguyễn Thị Kim B1, sinh năm 1956; Chồng: Phạm Thanh Đ, sinh năm 1981 và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2009.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị bắt giữ từ ngày 04-01-2023 đến ngày 13-01-2023 bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt tại phiên tòa).

4. LÊ CÔNG T2 – Sinh năm 1972, tại Bà Rịa - Vũng Tàu.

Nơi đăng ký thường trú: F Đ, khu phố F, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Chỗ ở: Như trên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Lê Văn C, sinh năm 1951; Mẹ: Nguyễn Thị Bích H2, sinh năm 1955 (đã chết); Vợ: Huỳnh Thị Thu L1, sinh năm 1971 và 02 con, con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 1998.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị bắt giữ từ ngày 03-01-2023 đến ngày 12-01-2023 bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt tại phiên tòa).

5. TRƯƠNG VĂN S – Sinh năm 1977, tại Quảng Trị.

Nơi đăng ký thường trú: Thôn S, xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Chỗ ở: Như trên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Trương Văn C1, sinh năm 1925; Mẹ: Nguyễn Thị C2, sinh năm 1936; Vợ: Bùi Thị Thủy D, sinh năm 1976 và 08 con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 2008.

Tiền sự: không.

Tiền án: Tại Bản án số 73/2022/HSST ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức tuyên phạt Trương Văn S 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thức thách là 16 tháng kể từ ngày tuyên án 29/9/2022.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt tại phiên tòa).

6. NGUYỄN THỊ THÚY O – Sinh năm 1983, tại Bà Rịa – Vũng Tàu.Nơi đăng ký thường trú: Khu phố D, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Chỗ ở: Như trên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Nguyễn Văn H3 (đã chết); Mẹ: Cao Thị B2, sinh năm 1959; Chồng: Hồ Thanh T8, sinh năm 1974 (không đăng ký kết hôn) và 03 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2021.Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt tại phiên tòa).

7. HỒ THỊ THU T3 – Sinh năm 1985, tại Bà Rịa – Vũng Tàu.Nơi đăng ký thường trú: Khu phố C, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Chỗ ở: 6 Đ, phường C, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Hồ Tấn T9, sinh năm 1947; Mẹ: Hồ Thị T10, sinh năm 1954; Chồng: Lê Thanh T11, sinh năm 1984 và 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt tại phiên tòa).

8. NGÔ THỊ CẨM H – Sinh năm 1986, tại Đồng Nai.

Nơi đăng ký thường trú: Ấp T, xã L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Chỗ ở: Như trên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 04/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Ngô Văn N, sinh năm 1959; Mẹ: Nguyễn Thị Tuyết N1 (đã chết); Chồng: Võ Phú Q, sinh năm 1983 và 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2011.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt tại phiên tòa).

Ngoài ra trong vụ án còn có các bị cáo khác nhưng không kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

I. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nhận được thông tin tố giác nên khoảng 17 giờ ngày 03/01/2023, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B tiến hành kiểm tra tại nhà của Trần Thị Bạch K, số E N, phường P, thành phố B, bắt quả tang K đang sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, số IMEI: 353897108266646 tính tiền ghi số đề trúng ngày 03/01/2023. Quá trình kiểm tra, K khai nhận ghi số đề từ Nguyễn Phú T. Tiến hành khám xét khẩn cấp tại nhà K, lực lượng Công an thu giữ: 01 vòng đeo tay bằng kim loại màu vàng, đường kính 06cm có đính 01 viên đá màu xanh; 01 vòng đeo tay bằng kim loại màu vàng, đường kính 5,5cm có đính 04 viên đá màu xanh; 01 nhẫn bằng kim loại màu vàng không rõ hình dạng, kích thước 02 cm; 01 nhẫn bằng kim loại màu vàng không rõ hình dạng, bên trên mặt gắn nhiều hạt màu trắng sáng, kích thước 02 cm; số tiền 295.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, số IMEI: 353897108266646, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, số IMEI: 355380254547901, đã qua sử dụng.

Đến 18 giờ cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B tiến hành kiểm tra tại nhà Nguyễn Phú T thuộc ấp P, xã L, thành phố B, phát hiện T đang sử dụng điện thoại di động hiệu OPPO, số IMEI: 869035049584077 tính tiền ghi số đề ngày 03/01/2023. Tang vật thu giữ: 02 tờ giấy ô ly có ghi các dãy số ở hai mặt. Cụ thể: Tờ số 01 hình chữ nhật, kích thước 15,2x5,8cm; mặt thứ nhất ghi “08. 19. 30. 52. 63. 74. 85. 09. 20. 42. 53. 64. 75. 86. 10. 32. 43. 54. 65. 76. 87”; mặt thứ hai ghi: "16. 27. 38. 49. 60. 82. 06. 17. 28. 39. 50. 72. 83. 07. 18. 29. 40. 62. 73. 84”. Tờ số 02 kích thước 15,2 x6.6cm; mặt thứ nhất ghi: “46. 57. 68. 79. 03. 14. 25. 36. 47. 58. 69. 80. 04. 15. 26. 37. 48. 59. 70. 05”; mặt thứ 2 ghi: “00. 22. 33. 44. 55. 66. 77. 88. 12. 23. 34. 45. 56. 67. 78. 89. 02. 13. 24. 35”. T khai hai tờ giấy ghi các con số đề bao lô đài Bến Tre ngày 03/01/2023 do T tự ghi rồi chụp hình gửi cho Trần Thị Bạch K để ghi số đề.

Tại cơ quan điều tra, các đối tượng khai nhận hành vi đánh bạc như sau: Nguyễn Phú T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, số IMEI: 869035049584077, gắn sim số 0567089299 và số 0909434588 truy cập vào ứng dụng zalo tên “Duyan” được đăng ký bằng số điện thoại 0567.089.xxx rối nhắn tin ghi số đề với Trần Thị Bạch K, Huỳnh Thị Thu T1, Nguyễn Thị Thúy O. Cụ thể như sau:

Trần Thị Bạch K, Nguyễn Phú T và Trương Văn S có mối quan hệ quen biết với nhau nên T và S ghi số đề với K. Chiều ngày 03/01/2023, T tự ghi 81 con số có hai chữ số ra bốn mặt giấy rồi chụp hình gửi qua zalo cho K để ghi số đề bằng hình thức bao lô đài Bến Tre ngày 03/01/2023 đối với 81 lô số trên. Mỗi lô T ghi số tiền 50.000 đồng. Sau khi nhận tin nhắn của T, K xác nhận đồng ý đồng thời chuyển tiếp hình ảnh 81 con số của T đến zalo của Trương Văn S. S đồng ý ghi bao lô 81 số trên với số tiền 50.000 đồng/số. Tiếp đó, K nhắn tin cho Lê Công T2 cũng ghi số đề 81 lô số nêu trên với số tiền 120.000 đồng/lô.

Ngoài ra, Lê Công T2 còn ghi số đề với Nguyễn Hồng S1 trú tại số A H, khu phố C, phường P, thành phố B và ghi thêm một số lô khác của đài Bến T12, Vũng Tàu (đài miền N) ngày 03/01/2023 rồi gửi tin nhắn ghi số đề cho một người (không rõ lai lịch) sử dụng số điện thoại 0382.738.xxx được T2 lưu tên trong danh bạ điện thoại là “Oac 2”.

Nguyễn Phú T gửi tin nhắn hình ảnh chụp 04 mặt giấy có ghi tổng cộng 81 con số cho Huỳnh Thị Thu T1 với nội dung Thiện ghi số đề 81 lô số trên với số tiền 150.000 đồng/01 lô số, lấy kết quả đài Bến Tre ngày 03/01/2023 T1 nhận tin nhắn và đồng ý. Sau đó T1 lựa chọn 10 lô số gồm: 16, 27, 38, 48, 60, 82, 06, 17, 28, 39 nhắn tin gửi đến tài khoản zalo tên “Chị Trang S2” của Lâm Minh T13 để ghi số đề đài Bến Tre ngày 03/01/2023 với số tiền 100.000 đồng/01 lô.

Nguyễn Phú T gửi tin nhắn cho Nguyễn Thị Thúy O với nội dung ghi các lô số 67, 36, 49, 53, 68, 77, 89, 02, 14, 23, 48, 57, 65, 76, 80 đài Bến Tre ngày 03/01/2023, mỗi lô số tiền 200.000 đồng. Nhận tin nhắn của T, O đã trả lại cho T 03 lô gồm các số 67, 36, 49 và chỉ nhận ghi các số còn lại, với số tiền 50.000 đồng/01 lô số. Ngoài ra, từ ngày 30/12/2022 đến ngày 03/01/2023, O còn nhận ghi số đề các đài Thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang, Kiên Giang (miền N), đài Đ1, Quảng Nam (đài miền T) và đài miền B với Hồ Thị Thu T3, Nguyễn Thị Thanh Y, Trần Thế B3, Hoàng Phượng D1, Trần Minh K1. Sau khi nhận, O lựa chọn một số lô chuyển cho tài khoản Zalo tên “E Hung” đăng ký số thuê bao 0795569714 và một phần chuyển cho một đối tượng tên H (không rõ lai lịch), phần còn lại O giữ lại tự thắng thua với người chơi.

Đỗ Thị Kim T5 (là vợ của Nguyễn Phú T) biết T bị bắt quả tang về hành vi đánh bạc nên đã đến cơ quan Công an tự thú khai nhận: Trước đó, T5 có quen biết với Ngô Thị Cẩm H nên ngày 27/12/2022 T5 nhắn tin nhờ H ghi số đề giúp. Thoa nhắn tin có nội dung “Btr. 14, 23, 31, 48, 65, 76, 80, 09, 11, 20. b.150n” nghĩa là bao lô các con số trên đài Bến Tre, mỗi lô số tiền 150.000 đồng. Sau khi nhận tin nhắn của T5, H đã đem các số đề Thoa gửi đến gặp một người phụ nữ không rõ lai lịch ở khu vực thị xã P để ghi đề. Đến ngày 03/01/2023, T5 xin T một vài số để tự đi ghi và T5 nhắn tin nhờ H tìm người ghi. H không tìm được người ghi nên gọi điện thông báo cho T5 nhưng T5 bận không bắt máy. Ngoài ra, cũng trong ngày 03/01/2023, T5 còn gửi tin nhắn ghi số đề với tài khoản “Life” (không rõ lai lịch) với nội dung: Btr 84, 13, 22, 37, 54, 69, 75, 88, 06, 18, 27 b 200n. Có nghĩa là bao lô đài Bến T12 các lô số này với số tiền 200.000 đồng/lô nhưng người này không trả lời tin nhắn.

Hình thức ghi lô đề và cách thức tính thắng thua bằng tiền, cụ thể như sau:

Đối với các đài miền N và miền T: hình thức đánh bao lô 02 số và 03 số, tiền thực nhận của người mua đề = tiền đánh x 14, khi tính thắng thua sẽ so sánh với kết quả xổ số của 18 giải đối với bao lô hai số; 17 giải đối với bao lô ba số; tiền thực nhận của người mua đề = tiền đánh x 13, tính thắng thua so với kết quả 16 giải, tỷ lệ ăn thua là 1:70. Hình thức đánh đầu đuôi: tiền thực nhận của người mua đề = tiền đánh x 0.8, khi tính thắng thua sẽ so sánh với kết quả xổ số của giải đặc biệt và giải tám, tỷ lệ ăn thua là 1:70. Hình thức đánh xiên: số tiền thực nhận của người mua đề = tiền đánh x 28; khi tính thắng thua sẽ so sánh với kết quả xổ số của 36 giải của 2 đài; tỷ lệ ăn thua là 1: 600. Hình thức đánh đá, cách tính tương tự xiên, khi tính thắng thua sẽ so sánh với kết quả xổ số của 18 giải của đài đánh, nếu nhiều đài thì so với 18 giải của tất cả các đài, tỷ lệ ăn thua là 1: 600. Hình thức đánh xỉu chủ: tiền thực nhận của người mua đề = tiền đánh x 2, tỷ lệ ăn thua là 1:600, khi tính thắng thua sẽ so sánh kết quả với giải bảy và giải đặc biệt.

Đối với đài miền B (Công ty X): hình thức đánh bao lô hai số: tiền thực nhận của người mua đề = tiền đánh x 23, khi tính thắng thua sẽ so sánh với kết quả xổ số của 27 giải, tỷ lệ ăn thua 1:70; hình thức đánh đầu đuôi: tiền thực nhận của người mua đề = tiền đánh x 0.8, khi tính thắng thua sẽ so sánh với kết quả xổ số của giải đặc biệt và giải tám, tỷ lệ ăn thua 1:70; hình thức đánh đá, số tiền thực nhận của người mua đề = tiền đánh x 46, khi tính thắng thua sẽ so sánh với kết quả xổ số của 27 giải, tỷ lệ ăn thua 1:600.

Căn cứ kết quả kiểm tra các tin nhắn ghi số đề (phơi đề) được chụp từ điện thoại của các đối tượng và căn cứ vào kết quả mở thưởng xổ số các tỉnh, xác định được số tiền đánh bạc của từng bị cáo cụ thể như sau:

  1. Nguyễn Phú T (ngày 03/01/2023):
    • - Số tiền đánh bạc với Trần Thị Bạch K đài Bến Tre (miền nam) ngày 03/01/2023: số tiền ghi đề 72.900.000 đồng + tiền trúng 59.500.000 đồng = 132.400.000 đồng.
    • - Số tiền đánh bạc với Nguyễn Thị Thúy O đài Bến Tre ngày 03/01/2023 là: 10.800.000 đồng (tiền ghi đề) (không có lô trúng).
    • - Số tiền đánh bạc với Huỳnh Thị Thu T1 là: Tiền ghi đề 218.700.000 đồng + tiền trúng đề 178.500.000 đồng = 397.200.000 đồng.
    • Tổng số tiền T đánh bạc là: 540.400.000 đồng (tiền ghi đề: 302.400.000 + tiền trúng 238.000.000 đồng).
  2. Trần Thị Bạch K:
    • - Số tiền đánh bạc với Nguyễn Phú T đài Bến Tre (miền nam) ngày 03/01/2023: số tiền ghi đề 72.900.000 đồng + tiền trúng 59.500.000 đồng = 132.400.000 đồng.
    • - Số tiền đánh bạc với Trương Văn S đài Bến Tre (miền nam) ngày 03/01/2023: số tiền ghi đề 72.900.000 đồng + tiền trúng 59.500.000 đồng = 132.400.000 đồng.
    • - Số tiền đánh bạc với Lê Công T2 đài Bến Tre (miền nam) ngày 03/01/2023: số tiền ghi đề 174.960.000 đồng + tiền trúng 142.800.000 đồng = 317.760.000 đồng.
    • Tổng số tiền K đánh bạc là: 582.560.000 đồng (tiền ghi đề: 320.760.000 + tiền trúng 261.800.000 đồng).
  3. Huỳnh Thị Thu T1:
    • - Số tiền đánh bạc với Nguyễn Phú T đài Bến Tre (miền nam) ngày 03/01/2023: 397.200.000 đồng (tiền ghi đề 218.700.000 đồng + tiền trúng đề 178.500.000 đồng).
    • - Số tiền đánh bạc với Lâm Minh T13 đài Bến T12 (miền nam) ngày 03/01/2023 là 25.000.000 đồng (tiền ghi đề 18.000.000 đồng, tiền trúng đề 7.000.000 đồng).
    • Tổng số tiền đánh bạc của Huỳnh Thị Thu T1 là: 422.200.000 đồng.
  4. Lê Công T2:
    • Ngày 03/01/2023, T2 nhận ghi số đề của Trần Thị Bạch K đài Bến T12 và nhận ghi số đề với Nguyễn Hồng S1 rồi ghi thêm một phần đài Bến Tre, Vũng Tàu sau đó chuyển cho đối tượng tên “Oác 2”. Cụ thể:
    • - Số tiền đánh bạc với Trần Thị Bạch K là: số tiền ghi đề 174.960.000 đồng + tiền trúng 142.800.000 đồng = 317.760.000 đồng.
    • - Số tiền đánh bạc với Nguyễn Hồng S1 và “Oác 2” là: 5.260.000 đồng (tiền ghi đề: 2.810.000 đồng + 2.450.000 đồng tiền trúng đề). Trong đó, tiền ghi đề của Nguyễn Hồng S1 là 2.860.000 đồng.
    • Tổng số tiền đánh bạc của Lê Công T2 ngày 03/01/2023 là: 323.020.000 đồng.
  5. Trương Văn S:
    • Số tiền đánh bạc với Trần Thị Bạch K đài Bến Tre (miền nam) ngày 03/01/2023: số tiền ghi đề 72.900.000 đồng + tiền trúng 59.500.000 đồng = 132.400.000 đồng.
  6. Nguyễn Thị Thúy O:
    • - Ngày 30/12/2022: Oanh đánh bạc đài miền B với Hoàng Phương D2 số tiền 230.000 đồng.
    • - Ngày 31/12/2022: O đánh bạc đài miền B với Trần Kinh K2, số tiền 440.000 đồng; đánh bạc đài miền N với Trần Kinh K2, Hoàng Phương D2 số tiền 1.369.000 đồng (tiền đánh bạc của K2 440.000 đồng, tiền đánh bạc của D2: 929.000 đồng).
    • - Ngày 01/01/2023: O đánh bạc đài miền B với Trần Kinh K2, Hồ Thị Thu T3, tổng số tiền: 6.615.000 đồng (tiền đánh bạc của T3: 6.130.000 đồng; tiền đánh bạc của K2: 515.000 đồng); đánh bạc đài miền N với Hồ Thị Thu T3 và Hoàng Phương D2, tổng số tiền: 22.443.000 đồng (tiền đánh bạc với T3: 21.514.000 đồng, tiền đánh bạc của D2: 929.000 đồng).
    • - Ngày 02/01/2023: O đánh bạc đài miền N với Hồ Thị Thu T3, Trần Thế B3, Nguyễn Thị Thanh Y, Hoàng Phương D2, tổng số tiền là 11.356.000 đồng (tiền đánh bạc của T3: 5.916.000 đồng; tiền đánh bạc của B3 là 1.800.000 đồng; tiền đánh bạc của Y là 1.560.000 đồng; tiền đánh bạc của D2 2.080.000 đồng); O đánh bạc đài miền T14 với Y số tiền 586.000 đồng; đánh bạc đài miền B với Hồ Thị Thu T3 và D2 số tiền 5.481.000 đồng (tiền đánh bạc của T3: 5.211.000 đồng; tiền đánh bạc của D2: 270.000 đồng).
    • - Ngày 03/01/2023: O chơi đánh bạc đài Bến Tre, Bà Rịa - Vũng Tàu (miền N) cùng với Nguyễn Phú T, Hồ Thị Thu T3 và Trần Thế B3, tổng số tiền đánh bạc 14.701.000 đồng (tiền đánh bạc với T 10.800.000 đồng; tiền đánh bạc với T3: 2.501.000 đồng; tiền đánh bạc với B3 1.400.000 đồng); O đánh bạc đài miền B với Hồ Thị Thu T3, Trần Kinh K2, tổng số tiền là 996.000 đồng (tiền đánh bạc của T3: 861.000 đồng; tiền đánh bạc của K2: 135.000 đồng).
    • Như vậy tổng số tiền O đánh bạc trên 5.000.000₫ là (6.615.000 đồng + 11.356.000 đồng + 14.701.000 đồng) = 32.672.000đ.
  7. Ngô Thị Cẩm H:
    • Ngày 27/12/2022, H nhận ghi số đề đài Bến Tre (miền N) với Đỗ Thị Kim T5, số tiền ghi đề 27.000.000 đồng, số tiền trúng đề 21.000.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 48.000.000 đồng.
  8. Hồ Thị Thu T3:
    • T3 ghi số đề với Nguyễn Thị Thúy O đài miền B, miền N các ngày 01 đến 03/01/2023, cụ thể:
    • - Ngày 01/01/2023, số tiền đánh bạc đài miền N 21.514.000 đồng; số tiền đánh bạc đài miền B: 6.130.000 đồng.
    • - Ngày 02/01/2023, số tiền đánh bạc đài miền N: 5.916.000 đồng; số tiền đánh bạc đài miền B: 5.211.000 đồng.
    • - Ngày 03/01/2023, số tiền đánh bạc đài miền N: 2.501.000 đồng; số tiền đánh bạc đài miền B: 861.000 đồng.
    • Như vậy tổng số tiền T3 đánh bạc trên 5.000.000₫ là (6. 130.000 đồng + 5.211.000 đồng) = 11.341.000đ.

*Vật chứng của vụ án gồm có:

  • - 02 (hai) tờ giấy với các con số gồm: Tờ số 1: Mặt 1: 08, 19, 30, 52, 63, 74, 85, 09, 20, 42, 53, 64, 75, 86, 10, 32, 43, 54, 65, 76, 87; mặt số 02: 16, 27, 38, 49, 60, 82, 06, 17, 28, 39, 50, 72, 83, 07, 18, 29, 40, 62, 73, 84. Tờ số 02: Mặt 1: 03: 00, 22, 33, 44, 55, 66, 77, 88, 12, 23, 34, 45, 56, 67, 78, 89, 02, 13, 24, 35; Mặt số 02: 04: 46, 57, 68, 79, 03, 14, 25, 36, 47, 58, 69, 80, 04, 15, 26, 37, 48, 59, 70, 05 (thu giữ của Nguyễn Phú T) đã đưa vào hồ sơ vụ án.
  • - 01 vòng đeo tay bằng kim loại màu vàng, đường kính 06cm có đính 01 (một) viên đá màu xanh; 01 vòng đeo tay bằng kim loại màu vàng, đường kính 5,5cm có đính 04 viên đá màu xanh; 01 nhẫn bằng kim loại màu vàng không rõ hình dạng, kích thước 02 cm; 01 nhẫn bằng kim loại màu vàng không rõ hình dạng, bên trên mặt gắn nhiều hạt màu trắng sang, kích thước 02 cm (thu giữ khi khám xét). Qua điều tra xác định là trang sức của Trần Thị Bạch K, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho K.
  • - Thu giữ của Trần Thị Bạch K: số tiền 295.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, số IMEI 353897108266646, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, số IMEI 355380254547901, đã qua sử dụng.
  • - Thu giữ của Nguyễn Phú T: 01 điện thoại di động hiệu OPPO F11, màu đen, số IMEI 869035049584077, bên trong gắn sim số 0567089299 và số 0909434588.
  • - Thu giữ của Lê Công T2: 01 điện thoại di động hiệu Nokia, model TA-1017, số Imeil 352883103167360, có gắn sim thuê bao số 0913981315 và 0933459975.
  • - Thu giữ của Huỳnh Thị Thu T1: 01 điện thoại di động hiệu OPPO A54, màu xanh đen, số IMEI 867980051160419, bên trong có gắn sim số 0902974171 và số 0346074776
  • - Thu giữ của Đỗ Thị Kim T5: số tiền 172.650.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno, số IMEI1 869414049231379, số IMEI1 869414049231369, gắn sim số thuê bao 0937377959.
  • - Thu giữ của Ngô Thị Cẩm H: 01 điện thoại di động hiệu S3 A6+, số IMEI: 356472092369405, số IMEI: 356472092369403 gắn sim số thuê bao 0395553587.
  • - Thu giữ của Trương Văn S: 01 điện thoại di động hiệu OPPO F11, màu đen tím, số IMEI: 869035041707759, bên trong có gắn sim số 0327796812.
  • - Thu giữ của Lâm Minh T13: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, số IMEI: 353977107670392, bên trong có gắn sim số 0978751179.
  • - Thu giữ của Nguyễn Thị Thúy O: 01 điện thoại di động hiệu Samsung số IMEI:350538289659737, bên trong có gắn sim số 0786562050.

Toàn bộ số vật chứng trên, cơ quan CSĐT công an thành phố B đã chuyển giao Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa bảo quản chờ xử lý.

II. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 143/2023/HS-ST ngày 28/12/2023, Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã quyết định:

Tuyên bố: Các bị cáo Trần Thị Bạch K, Nguyễn Phú T, Huỳnh Thị Thu T1, Lê Công T2, Trương Văn S, Nguyễn Thị Thúy O, Hồ Thị Thu T3, Nguyễn Thị Cẩm H4 phạm tội “Đánh bạc”.

  1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Trần Thị Bạch K 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt chấp hành án, được khấu trừ 09 ngày tạm giữ từ ngày 03-01-2023 đến 12-01-2023.
  2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Nguyễn Phú T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt chấp hành án, được khấu trừ 09 ngày tạm giữ từ ngày 03-01-2023 đến 12-01-2023.
  3. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Huỳnh Thị Thu T1 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt chấp hành án, được khấu trừ 09 ngày tạm giữ từ ngày 04-01-2023 đến 13-01-2023.
  4. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Lê Công T2 03 (ba) năm tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt chấp hành án, được khấu trừ 09 ngày tạm giữ từ ngày 03-01-2023 đến 12-01-2023.
  5. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17 Bộ luật hình sự; Xử phạt Trương Văn S 03 (ba) năm tù về tội “Đánh bạc”. Áp dụng khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo phải chấp hành 8 tháng tù theo Bản án số 73/2022/HSST ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức. Áp dụng khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự, buộc bị cáo Trương Văn S phải chấp hành hình phạt chung đối với tội “Đánh bạc” nêu trên và đối với hình phạt 08 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 73/2022/HSST ngày 29/9/2022 của Toà án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, tổng cộng bị cáo Trương Văn S phải chấp hành hình phạt chung là 03 (ba) năm, 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt chấp hành án.
  6. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Nguyễn Thị Thúy O 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt chấp hành án.
  7. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Hồ Thị Thu T3 18 (mười tám) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt chấp hành án.
  8. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Ngô Thị Cẩm H 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt chấp hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên hình phạt của bị cáo Đỗ Thị Kim T5, Lâm Minh T13; tuyên về án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo.

III. Ngày 03/01/2024, bị cáo Hồ Thị Thu T3 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo Trần Thị Bạch K và Huỳnh Thị Thu T1 xin được hưởng án treo.

Ngày 04/01/2024, bị cáo Nguyễn Phú T và Lê Công T2 có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.

Ngày 08/01/2024, bị cáo Nguyễn Thị Thúy O, Ngô Thị Cẩm H có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.

Ngày 11/01/2024, bị cáo Trương Văn S có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

IV. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; riêng bị cáo Hồ Thị Thu T3 xin được hưởng án treo; bị cáo S xin rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo.

1. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xét xử vụ án:

Về tố tụng:

Các bị cáo có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, đảm bảo về hình thức và chủ thể kháng cáo, do đó kháng cáo của bị cáo là hợp lệ. Đối với việc rút kháng cáo của bị cáo S là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc nên chấp nhận đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo S.

Về nội dung:

Toà án cấp sơ thẩm tuyên bố các bị cáo phạm tội “Đánh bạc”, xử phạt bị cáo Trần Thị Bạch K 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù; bị cáo Nguyễn Phú T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù; bị cáo Huỳnh Thị Thu T1 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù; bị cáo Lê Công T2 03 (ba) năm tù; bị cáo Trương Văn S 03 (ba) năm tù; bị cáo Nguyễn Thị Thúy O 24 (hai mươi bốn) tháng tù; bị cáo Hồ Thị Thu T3 18 (mười tám) tháng tù; bị cáo Ngô Thị Cẩm H 15 (mười lăm) tháng tù là phù hợp với nhân thân, tính chất, mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo; xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét thấy các bị cáo T2, H đủ điều kiện được hưởng án treo nên đề nghị HĐXX:

- Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo T2, H; giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho hưởng án treo.

- Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Phú T, Trần Thị Bạch K, Huỳnh Thị Thu T1, Nguyễn Thị Thúy O, Hồ Thị Thu T3, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm số 143/2023/HSST ngày 28/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đối với các bị cáo nêu trên.

2. Các bị cáo không tranh luận, nói lời sau cùng thừa nhận hành vi sai trái của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và cho các bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Kháng cáo của các bị cáo làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định của pháp luật về chủ thể kháng cáo, hình thức và nội dung đơn kháng cáo. Do vậy, kháng cáo của các bị cáo là hợp lệ, được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Đối với việc rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bị cáo S là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc nên chấp nhận đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo S.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định như sau:

Trong các ngày 27/12/2022, 01, 02, 03-01-2023, các bị cáo Nguyễn Phú T, Huỳnh Thị Thu T1, Lê Công T2, Trần Thị Bạch K, Trương Văn S, Nguyễn Thị Thúy O, Hồ Thị Thu T3, Nguyễn Thị Cẩm H4, Đỗ Thị Kim T5, Lâm Minh T13 đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số đề bằng cách nhắn tin qua điện thoại di động với nhau. Căn cứ vào kết quả mở thưởng sổ số của các đài miền N, miền B để tính số tiền thắng thua. Các con số đề do các bị cáo ghi với nhau còn lưu giữ trong các tin nhắn trong điện thoại của các bị cáo.

Theo hướng dẫn tại mục 4, mục 5 Điều 1 Nghị quyết 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì số tiền dùng để đánh bạc của các bị cáo được xác định cụ thể như sau:

  1. Bị cáo Nguyễn Phú T: Ngày 03/01/2023 T đánh bạc với Trần Thị Bạch K; Nguyễn Thị Thúy O; Huỳnh Thị Thu T1; tổng số tiền đánh bạc được xác định là 540.400.000 đồng (tiền ghi đề: 302.400.000 + tiền trúng 238.000.000 đồng).
  2. Bị cáo Trần Thị Bạch K: Kim đánh bạc với các bị cáo T, S, T2; tổng số tiền K đánh bạc là: 582.560.000 đồng (tiền ghi đề: 320.760.000 + tiền trúng 261.800.000 đồng).
  3. Bị cáo Huỳnh Thị Thu T1: Ngày 03/01/2023 T1 đánh bạc với Nguyễn Phú T; Lâm Minh T13; tổng số tiền đánh bạc của Huỳnh Thị Thu T1 ngày 03/01/2023 là: 422.200.000 đồng.
  4. Bị cáo Lê Công T2: Ngày 03/01/2023, T2 đánh bạc với Trần Thị Bạch K; Nguyễn Hồng S1 và “Oác 2”; tổng số tiền đánh bạc của Lê Công T2 ngày 03/01/2023 là: 323.020.000 đồng.
  5. Bị cáo Trương Văn S: Ngày 03/01/2023 S đánh bạc với Trần Thị Bạch K số tiền là: 132.400.000 đồng (số tiền ghi đề 72.900.000 đồng + tiền trúng 59.500.000 đồng).
  6. Bị cáo Nguyễn Thị Thúy O: Ngày 01/01/2023, O đánh bạc đài miền B với Trần Kinh K2, Hồ Thị Thu T3, tổng số tiền: 6.615.000 đồng (tiền đánh bạc của T3: 6.130.000 đồng, tiền đánh bạc của K2: 515.000 đồng); đánh bạc đài miền N với Hồ Thị Thu T3 và Hoàng Phương D2, tổng số tiền: 22.443.000 đồng (tiền đánh bạc với T3: 21.514.000 đồng, tiền đánh bạc của D2: 929.000 đồng). Ngày 02/01/2023, O đánh bạc đài miền N với Hồ Thị Thu T3, Trần Thế B3, Nguyễn Thị Thanh Y, Hoàng Phương D2, tổng số tiền là 11.356.000 đồng (tiền đánh bạc của T3: 5.916.000 đồng; tiền đánh bạc của B3 là 1.800.000 đồng; tiền đánh bạc của Y là 1.560.000 đồng; tiền đánh bạc của D2 2.080.000 đồng); đánh bạc đài miền B với Hồ Thị Thu T3 và D2 số tiền 5.481.000 đồng (tiền đánh bạc của T3: 5.211.000 đồng; tiền đánh bạc của D2: 270.000 đồng). Ngày 03/01/2023: O chơi đánh bạc đài Bến Tre, Bà Rịa - Vũng Tàu (miền N) với Nguyễn Phú T, Hồ Thị Thu T3 và Trần Thế B3, tổng số tiền đánh bạc 14.701.000 đồng (tiền đánh bạc với T 10.800.000 đồng; tiền đánh bạc với T3: 2.501.000 đồng; tiền đánh bạc với B3 1.400.000 đồng).
  7. Bị cáo Hồ Thị Thu T3: T3 ghi số đề với Nguyễn Thị Thúy O các đài miền B, miền N các ngày 01 đến 02/01 2023, cụ thể: - Ngày 01/01/2023, số tiền đánh bạc đài miền N 21.514.000 đồng; số tiền đánh bạc đài miền B 6.130.000 đồng. - Ngày 02/01/2023, số tiền đánh bạc đài miền N: 5.916.000 đồng; số tiền đánh bạc đài miền B: 5.211.000 đồng.
  8. 8. Ngô Thị Cẩm H: Ngày 27/12/2022, H đánh bạc đài Bến Tre (miền N) với Đỗ Thị Kim T5, số tiền ghi đề 27.000.000 đồng, số tiền trúng đề 21.000.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 48.000.000 đồng.

Hành vi của các bị cáo đủ căn cứ cấu thành tội “Đánh bạc”.

Toà án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Phú T, Trần Thị Bạch K, Huỳnh Thị Thu T1, Lê Công T2 về tội “Đánh bạc” theo khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Nguyễn Thị Thúy O, Hồ Thị Thu T3, Ngô Thị Cẩm H theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ.

[3] Xét kháng cáo của các bị cáo như sau:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, ảnh hưởng đến nếp sống văn minh gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi “Đánh bạc” của mình. Các bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức hành vi của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy cần xử lý nghiêm minh để răn đe, giáo dục riêng với các bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo trong quá trình lượng hình đã thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật cũng như phù hợp với tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo có bổ sung xác nhận về hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đối với các bị cáo Nguyễn Phú T, Trần Thị Bạch K, Huỳnh Thị Thu T1 thực hiện hành vi ghi số đề với nhiều người với số tiền lớn nên vai trò và mức độ nguy hiểm về hành vi của hai bị cáo là tương đương nhau; Toà án cấp sơ thẩm xử phạt cả hai bị cáo T và K cùng mức án là 03 năm 06 tháng; bị cáo Huỳnh Thị Thu T1 03 năm 03 tháng tù là hoàn toàn phù hợp; đối chiếu với quy định về điều kiện được hưởng án treo thì các bị cáo chưa đủ điều kiện; nên kháng cáo của các bị cáo không có căn cứ để chấp nhận.

Đối với các bị cáo Hồ Thị Thu T3, Nguyễn Thị Thúy O thực hiện hành vi đánh bạc với nhiều người và nhiều ngày nên phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo O thực hiện hành vi ghi số đề với số tiền nhiều hơn bị cáo Hồ Thị Thu T3 nên bị cáo O phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo Hồ Thị Thu T3. Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thúy O mức án là 24 tháng tù; bị cáo Hồ Thị Thu T3 18 tháng tù; đối chiếu với quy định về điều kiện được hưởng án treo, các bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 và 01 tình tiết tăng nặng tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự nên các bị cáo chưa đủ điều kiện để được hưởng án treo; tuy nhiên mức án nêu trên Toà án cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo có phần nghiêm khắc, cần giảm một phần hình phạt cho các bị cáo để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật nên chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo.

Đối với các bị cáo Lê Công T2, Ngô Thị Cẩm H, Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Lê Công T2 mức án là 03 năm tù; bị cáo Ngô Thị Cẩm H 15 tháng tù là hoàn toàn phù hợp; đối chiếu với quy định về điều kiện được hưởng án treo; bị cáo T2 có 01 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 và 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng; Bị cáo H có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 và 01 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng; các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn là lao động chính trong gia đình, có nơi cư trú rõ ràng; đủ điều kiện được hưởng án treo; nên chấp nhận kháng cáo của bị cáo T2 và H; giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho các bị cáo T2 và H được hưởng án treo.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

[4] Về án phí phúc thẩm:

Do kháng cáo của các bị cáo Trần Thị Bạch K, Nguyễn Phú T, Huỳnh Thị Thu T1 không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị Thúy O, Hồ Thị Thu T3 được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Kháng cáo của các bị cáo Lê Công T2, Nguyễn Thị Cẩm H4 được chấp nhận toàn bộ nên không phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 3 Điều 342; điểm d khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Trương Văn S.

    Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17 Bộ luật hình sự; Xử phạt Trương Văn S 03 (ba) năm tù về tội “Đánh bạc”.

    Áp dụng khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo phải chấp hành 08 (T15) tháng tù theo Bản án số 73/2022/HSST ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

    Áp dụng khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự; buộc bị cáo Trương Văn S phải chấp hành hình phạt chung là 03 (ba) năm 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt chấp hành án

  2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Phú T, Trần Thị Bạch K, Huỳnh Thị Thu T1; giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm số 143/2023/HSST ngày 28/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đối với các bị cáo nêu trên.
    1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Trần Thị Bạch K 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt chấp hành án, được khấu trừ 09 ngày tạm giữ từ ngày 03-01-2023 đến 12-01-2023.
    2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Nguyễn Phú T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt chấp hành án, được khấu trừ 09 ngày tạm giữ từ ngày 03-01-2023 đến 12-01-2023.
    3. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Huỳnh Thị Thu T1 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt chấp hành án, được khấu trừ 09 ngày tạm giữ từ ngày 04-01-2023 đến 13-01-2023.
  3. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị Thúy O, Hồ Thị Thu T3; sửa Bản án sơ thẩm số 143/2023/HSST ngày 28/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đối với các bị cáo nêu trên.
    1. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Nguyễn Thị Thúy O 18 (mười tám) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt chấp hành án.
    2. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Hồ Thị Thu T3 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt chấp hành án.
  4. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận toàn bộ kháng cáo của các bị cáo Lê Công T2, Ngô Thị Cẩm H; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 143/2023/HSST ngày 28/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đối với các bị cáo nêu trên.
    1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17; Điều 65 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Lê Công T2 03 (ba) năm tù về tội “Đánh bạc”, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc phẩm.
    2. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17; Điều 65 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Ngô Thị Cẩm H 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Đánh bạc”, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án phúc phẩm.

    Giao bị cáo Ngô Thị Cẩm H cho Ủy ban nhân dân xã L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

    Giao bị cáo Lê Công T2 cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

    Gia đình các bị cáo T2, H có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú trong việc giám sát giáo dục các bị cáo.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo; nếu phạm tội mới trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Bộ luật Hình sự.

  5. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 143/2023/HSST ngày 28/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  6. Án phí hình sự phúc thẩm:
    • - Các bị cáo Nguyễn Phú T, Trần Thị Bạch K, Huỳnh Thị Thu T1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
    • - Các bị cáo Trương Văn S, Lê Công T2, Ngô Thị Cẩm H, Nguyễn Thị Thúy O, Hồ Thị Thu T3 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

    Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;
  • - PV 27 Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;
  • - Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa;
  • - VKSND thành phố Bà Rịa;
  • - Công an thành phố Bà Rịa;
  • - Chi cục THADS thành phố Bà Rịa;
  • - UBND xã Long Phước, UBND phường Phước Hiệp;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thành Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 111/2024/HS-PT ngày 17/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về đánh bạc (hình sự)

  • Số bản án: 111/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Phú T và đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger