|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 111/2024/HS-PT Ngày: 15-4-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Liên
Các Thẩm phán:
Ông Huỳnh Văn Phú
Ông Nguyễn Văn Dũng
- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Văn Trung Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Xuân Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 62/2024/TLPT-HS ngày 28/02/2024 đối với bị cáo Trần Văn N và bị cáo Trần Văn M, do có kháng cáo của các bị cáo Trần Văn N và Trần Văn M đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 04/2024/HS-ST ngày 18/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
- Bị cáo có kháng cáo:
- Họ và tên: Trần Văn N; giới tính: nam; sinh năm 1991 tại T, tỉnh Quảng Nam; nơi ĐKHKTT: thôn Đ, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Sơn nước; trình độ văn hóa: 9/12; con ông Trần Văn D, sinh năm: 1969 và bà Huỳnh Thị N1, sinh năm: 1972; vợ: Bùi Thị Ngọc L, sinh năm 1995, có 01 con nhỏ sinh năm 2018; tiền án: không;
Tiền sự: ngày 09/12/2022, bị Công an huyện T xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi "Tổ chức, tham gia tụ tập nhiều người ở nơi công cộng gây mất trật tự công cộng".
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 23/8/2023 dến ngày 20/10/2023 được thay đổi sang biện pháp ngăn chặn "Bảo lĩnh".
- Họ và tên: Trần Văn M; giới tính: nam; sinh năm 1990 tại T, tỉnh Quảng Nam; nơi ĐKHKTT: thôn Đ, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam; quốc tịch Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hoá: 9/12; con ông Trần Ngọc A và bà Hồ Thị M1 (đều đã chết); vợ: Trần Thị N2, sinh năm 1991; có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 23/8/2023 đến ngày 20/10/2023 được thay đổi
sang biện pháp ngăn chặn "Bảo lĩnh".
Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo Lý Lâm Đ, Trần Xuân H, Nguyễn Văn Đ1 và bị hại không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ ngày 02/6/2023, Lý Lâm Đ và Trần Văn N ngồi nhậu tại quán của Trần Văn M thuộc thôn Đ, xã B, huyện T. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, có Trần Xuân H đến nhậu cùng Đ và N. Sau đó, Đ và N xuống hồ tôm gần đó xem kéo tôm thì có Nguyễn Văn Đ1 cũng đến quán ngồi nhậu cùng H Và M. Đến 22 giờ 30 phút cùng ngày, Đ và N quay về tới đường T trước quán M thì thấy ông Phạm Minh H1 điều khiển xe ô tô tải BKS 92C-132.20 chở tôm lưu thông trên đường T từ xã B, huyện T ra thành phố Đà Nẵng. Trên cabin xe còn có bà Tăng Thị Kim C (chủ xe), em Đỗ Khải D1 (con của bà C) và bà Tăng Thị Kim C1 (chị của bà C). Do đã uồng nhiều bia rượu nên Lý Lâm Đ và Trần Văn N chặn xe ô tô tải BKS 92C-132.20 lại. Tiếp đó, Lý Lâm Đ nhảy lên cửa xe bên tài thì ông H1 hạ kính chắn gió xuống. Đ nói với ông H1: "Mi định tông tao hả?" rồi dùng tay đấm vào mặt ông H1 01 (một) cái. Ông H1 định đánh lại nhưng được bà C can ngăn nên ông H1 không đánh Đ. Lúc này, Đ bị trượt tay ngã xuống xe nên chạy vào quán nhậu của M lấy 02 (hai) vỏ chai bia Huda đập vào cửa kính và gương chiếu hậu bên trái rồi phóng 02 (hai) vỏ chai trúng kính chắn gió phía trước xe ô tô tải BKS 92C-132.20 gây hư hỏng. Trần Văn M thấy Đ ném vỏ chai vào xe ô tô tải thì chạy vào nhà lấy 01 (một) viên gạch có dính bê tông đem ra để phía trước quán. M tiếp tục lấy 01 (một) đoạn tre khô đập trúng vào đèn xi nhan bên trái của xe ô tô tải BKS 92C- 132.20 gây hư hỏng và dùng đoạn tre chọc vào cabin xe trúng chân ông H1 gây thương tích. Sau đó, M thấy trên xe có bà C, bà C1 là người quen của mình nên không đánh ông H1 và đập xe nữa. N chạy lại cầm 01 viên gạch có dính bê tông (dài 22cm, rộng 13cm, cao 13cm) ném vào cabin xe trúng ông H1 gây thương tích và chạy vào quán Mười lấy 04 (bốn) vỏ chai bia Huda ném vào đèn xi nhan phía trước xe tải gây hư hỏng. Nguyễn Văn Đ1 nhìn thấy thì cũng cầm 02 (hai) vỏ chai Huda ném trúng kính chắn gió bên trái và cabin xe tải gây hư hỏng. Trần Xuân H đang ngồi nhậu thì đứng dậy cầm 01 (một) vỏ chai bia Huda ném về phía xe tải BKS 92C-132.20. Lúc này, anh H1 mở được cửa xe bên phải rồi cùng em D1 bỏ chạy thì Đ và N cầm vỏ chai bia đuổi theo nhưng không đuổi kịp. Anh H1 trốn vào nhà người dân ở gần đó rồi gọi điện cho Công an xã B đến giải quyết vụ việc trên. Hậu quả: kính chắn gió trước, 02 đèn xi nhan, kính cửa xe và kính chiếu hậu bên trái xe ô tô tải BKS 92C-181.34 bị hư hỏng, ông H1 và em D1 bị thương được người dân đưa đi Bệnh viện điều trị.
Tại Bản kết luận giám định thương tích số 470/KLTTCT-TTPY ngày 22/6/2023 kết luận tỉ lệ phần trăm tổn thương của anh Phạm Minh H1 là 10%.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương thương tích số 471/KLTTCT-TTPY ngày 22/6/2023 kết luận tỉ lệ phần trăm tổn thương của em Đỗ Khải D1 là 03%.
Ngày 20/6/2023, anh Phạm Minh H1 và em Đỗ Khải D1 có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với vụ việc trên.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 36/KL-HĐĐG ngày 14/6/2023 kết luận thiệt hại của xe ô tô tải BKS 92C-132.20 là 5.802.600 đồng.
Trong quá trình điều tra, Trần Văn N và Trần Văn M đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2024/HS-ST ngày 28/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam đã quyết định:
Tuyên bố: các bị cáo Trần Văn N và Trần Văn M phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”;
Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật Hình sự 2015;
Xử phạt bị cáo Trần Văn N 09 (Chín) tháng tù;
Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật Hình sự 2015;
Xử phạt bị cáo Trần Văn M 06 (Sáu) tháng tù.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về tôi danh và hình phạt đối với các bị cáo Lý Lâm Đ, Nguyễn văn Đ2, Trần Xuân H, về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 19 và 16/01/2024, bị cáo Trần Văn N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo Trần Văn N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Trần Văn N, Trần Văn M giữ nguyên nội dung kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện đúng như nội dung bản cáo trạng và bản án hình sự sơ thẩm đã được tóm tắt nêu trên.
Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Bị cáo Trần Văn N có nhân thân xấu đã bị xử phạt hành chính. Hành vi phạm tội của các bị cáo thể hiện tính côn đồ, hung hãn, không những gây thiệt hại về tài sản mà các bị cáo còn gây thương tích cho anh Phạm Minh H1 10% và cháu Đỗ Khải D1 03%, anh H1 và cháu D1 có đơn không yêu cầu khởi tố về hành vi cốp ý gây thương tích. Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để làm căn cứ xử phạt bị cáo Trần Văn N 9 tháng tù và bị cáo Trần Văn M 06 tháng tù giam là phù hợp và không nặng, nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.
Các bị cáo không tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Trần Văn N và Trần Văn M có đơn kháng cáo về phần hình phạt. Xét đơn kháng cáo của các bị cáo trong hạn luật định theo đúng quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng
hình sự nên kháng cáo của các bị cáo là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Trần Văn N và Trần Văn M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được Cơ quan điều tra chứng minh có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 02/6/2023, Lý Lâm Đ và Trần Văn N, Trần Xuân H, Nguyễn Văn Đ1 cùng nhậu tại quán của Trần Văn M, đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày. Khi thấy xe ô tô tải BKS 92C-132.20 do ông Phạm Minh H1 điều khiển chở tôm lưu thông trên đường T từ xã B, huyện T ra thành phố Đà Nẵng (Trên cabin xe còn có bà Tăng Thị Kim C, em Đỗ Khải D1 và bà Tăng Thị Kim C1) Lý Lâm Đ và Trần Văn N đến chặn xe ô tô của ông H1 lại, ông Hà h của kính xuống, thì Đ dùng tay đấm vào mặt ông H1 01 cái, sau đó, Đ tiếp tục chạy vào quán nhậu của Trần Văn M lấy 02 vỏ chai bia Huda đập vào cửa kính và gương chiếu hậu bên trái rồi phóng 02 vỏ chai trúng kính chắn gió phía trước xe ô tô tải gây hư hỏng. Trần Văn M chạy vào nhà lấy 01 viên gạch có dính bê tông đem ra để phía trước quán rồi tiếp tục lấy 01 đoạn tre khô đập trúng vào đèn xi nhanh gây hư hỏng, sau đó dùng đoạn tre chọc vào cabin xe trúng chân ông H1 gây thương tích. Trần Văn N cầm 01 viên gạch có dính bê tông ném vào cabin xe trúng ông H1 gây thương tích và chạy vào quán M lấy 04 vỏ chai bia Huda ném vào đèn xi nhan phía trước xe tải gây hư hỏng. Nguyễn Văn Đ1 cầm 02 vỏ chai Huda ném trúng kính chắn gió bên trái và cabin xe tải gây hư hỏng. Trần Xuân H cầm 01 vỏ chai bia Huda ném về phía xe tải. Lúc này, anh H1 mở được cửa xe bên phải rồi cùng em D1 bỏ chạy thì Đ và N cầm vỏ chai bia đuổi theo nhưng không đuổi kịp. Hậu quả xe ô tô tải BKS 92C-181.34 bị hư hỏng với tổng thiệt hại là 5.802.600 đồng. Ngoài ra, anh Phạm Minh H1 bị thương tích 10% và em Đỗ Khải D1 bị thương tích 03% nhưng anh H1 và cháu D1 có đơn không yêu cầu khởi tố về hành vi cố ý gây thương tích.
Với hành vi và hậu quả nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm kết án các bị cáo Trần Văn N và bị cáo Trần Văn M về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của các bị cáo thì thấy:
Bị cáo Trần Văn N có nhân thân xấu ngày 09/12/2022 bị Công an huyện T xử phạt hành chính về hành vi “Tổ chức tham gia tụ tập nhiều người ở nơi công cộng gây mất trật tự công cộng” bị cáo không lấy đó làm bài học mà còn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của các bị cáo Trần Văn N, Trần Văn M thể hiện tính côn đồ, hung hãn, không những gây thiệt hại về tài sản cho bị hại mà còn gây thương tích cho anh Phạm Minh H1 10% và cháu Đỗ Khải D1 03%. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo Trần Văn N cung cấp giấy xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn và đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự đây những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự phát sinh tại cấp phúc thẩm. Tuy nhiên xét thấy, Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất vụ án, mức độ, hậu quả, hành vi phạm tội của các bị cáo và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để làm căn cứ xử phạt các bị cáo Trần Văn N mức án 09 tháng tù, Trần Văn M 06 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” là có căn cứ,
phù hợp, đảm bảo tính răn đe và giáo dục chung đối với loại tội này, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của các bị cáo giữ y bản án sơ thẩm về phần hình phạt.
[4] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của các bị cáo không được chấp nhận, nên căn cứ quy định tại điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Văn N và Trần Văn M, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 04/2024/HS-ST ngày 28/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, về hình phạt đối với các bị cáo.
Áp dụng khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Văn N 09 (Chín) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bắt đi thi hành án, nhưng được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam (từ ngày 23/8/2023 đến ngày 20/10/2023).
Xử phạt bị cáo Trần Văn M 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bắt đi thi hành án, nhưng được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam (từ ngày 23/8/2023 đến ngày 20/10/2023)
2. Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc các bị cáo Trần Văn N, Trần Văn M, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 15/4/2024.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Liên |
Bản án số 111/2024/HS-PT ngày 15/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM về hình sự phúc thẩm (cố ý làm hư hỏng tài sản)
- Số bản án: 111/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý làm hư hỏng tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý làm hư hỏng tài sản
