TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 111/2024/HS-PT
Ngày: 08-11-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Trọng Cẩn.
Các Thẩm phán: Ông Trần Ngọc Tú và bà Trương Thị Đào Vị.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhật Hạ - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thuyên - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (Số A T, thành phố H) xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 97/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo Lê Võ Sĩ H, Lê Thanh H1, Lê Văn L và Nguyễn Trần K do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2024/HS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Bị cáo có kháng cáo:
1. Lê Võ Sĩ H, sinh ngày 19/5/2004 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã B, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Pa Hi; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con của ông Lê Văn K1 và bà Hồ Thị N; gia đình có 04 anh, em ruột, bị cáo là con thứ hai; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
* Quá trình nhân thân: Nhỏ ở với gia đình tại xã B, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, lớn lên học văn hoá đến lớp 9/12 thì nghỉ học, sau đó làm nghề lao động tự do tại địa phương cho đến ngày phạm tội.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 07/02/2024, chuyển tạm giam từ ngày 16/02/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
2. Lê Thanh H1, sinh ngày 19/11/1993 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã B, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Pa Hi; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn R và bà Lê Thị H2; gia đình có 05 chị, em ruột, bị cáo là con út; vợ con: Chưa có.
* Quá trình nhân thân: Nhỏ ở với gia đình tại xã B, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, lớn lên học văn hoá đến lớp 11/12 thì nghỉ học, sau đó làm nghề lao động tự do tại địa phương cho đến ngày phạm tội.
Ngày 10/02/2015, bị TAND thành phố Huế xử phạt 04 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại Bản án số 35/2015/HSST;
Ngày 16/11/2016, bị TAND thành phố Huế xử phạt 06 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” tại Bản án số 240/2016/HSST (bị cáo đã chấp hành xong hình phạt);
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 07/02/2024, chuyển tạm giam từ ngày 16/02/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
3. Lê Văn L (tên gọi khác: M), sinh ngày 29/6/1997 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã B, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Pa Hi; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con của ông Lê Văn K2 và bà Nguyễn Thị L1; gia đình có 04 anh, em ruột, bị cáo là con út; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
* Quá trình nhân thân: Nhỏ ở với gia đình tại xã B, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, lớn lên học văn hoá đến lớp 9/12 thì nghỉ học, sau đó làm nghề lao động tự do tại địa phương cho đến ngày phạm tội.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 07/02/2024, chuyển tạm giam từ ngày 16/02/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
4. Nguyễn Trần K, (tên gọi khác: P), sinh ngày 21/7/2004 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã B, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Bru Vân Kiều; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con của ông Nguyễn Văn B và bà Trần Thị T; gia đình có 03 anh, em ruột, bị cáo là con đầu; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
* Quá trình nhân thân: Nhỏ ở với gia đình tại xã B, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, lớn lên học văn hoá đến lớp 10/12 thì nghỉ học, sau đó làm nghề lao động tự do tại địa phương cho đến ngày phạm tội.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 07/02/2024, chuyển tạm giam từ ngày 16/02/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ ngày 07 tháng 02 năm 2024, tại quán C thuộc thôn B, xã B, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, Lê Võ Sĩ H gặp Nguyễn Trần K, Lê Văn L và Lê Thanh H1. H rủ K, L, H1 góp tiền mua ma túy để sử dụng thì cả ba người đồng ý. Cả nhóm bàn bạc và thống nhất mỗi người góp 100.000 đồng để mua ma túy và giao cho H đi mua. Sau khi góp tiền xong, H được L giới thiệu một người thanh niên không rõ nhân thân lai lịch bán ma túy thông qua ứng dụng Messenger. H sử dụng điện thoại của L để liên lạc hỏi mua ma túy thì được người này hẹn giao ma túy tại thành phố H. Theo hướng dẫn của người thanh niên này, H sử dụng xe mô tô BKS 75K1-272.04 chạy lòng vòng qua nhiều đoạn đường của thành phố H rồi dừng lại một con đường H không nhớ rõ tên và gặp người thanh niên đang đợi. H đưa cho người thanh niên này số tiền 400.000 đồng và được nhận lại 08 (tám) viên hồng phiến và một bật lửa màu xanh. Sau khi nhận số ma túy trên, H tiếp tục điều khiển xe về thôn B, xã B, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế và gặp K đang điều khiển xe mô tô BKS 75D1-390.16 đi trên đường. Sau khi biết H mua được ma túy, K cùng H lái xe đến nhà L, rủ L sang căn nhà hoang do chị Đặng Ngọc Thiện Ý làm chủ sở hữu. Trước khi sang nhà hoang, H cầm theo một chai nhựa, L cầm theo một chiếc chiếu nhựa. Khi vào trong căn nhà hoang, L trải chiếu ra nhà để H, K cùng ngồi. Tại ngôi nhà hoang này, K có lấy ra một chai nhựa có một ống tre gắn ở thân chai. Sau đó, H lấy ra chiếc bật lửa màu xanh, 08 viên ma túy mới mua và một gói thuốc lá S ra chiếu. H châm điếu thuốc lá và châm thủng một lỗ trên chiếc chai mang theo, vị trí chiếc lỗ cách đáy chai khoảng 2cm. K sử dụng một tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng quấn lại thành dạng ống rồi gắn vào vị trí lỗ trên chai, sau đó, H đổ nước vào chai nhựa. H tiếp tục lấy tờ giấy bạc trong vỏ bao thuốc lá S và xé ra làm một cái máng, H bỏ ra 01 viên hồng phiến vào máng rồi một tay cầm máng, một tay bật lửa đốt phía dưới máng để tạo ra khói cho K, L và H thay nhau ngậm miệng vào chai nhựa và hít khói bốc ra từ viên hồng phiến qua đường ống làm bằng tờ tiền trên chai nhựa. Đến khoảng 19 giờ 40 phút, L sử dụng điện thoại gọi H1 đến sử dụng ma túy. H1 đang ở quán C cùng với Lê Ngọc Đ thì nhận được điện thoại của L. H1 điều khiển xe mô tô BKS 75L1-169.36 chở Đên, trên đường đi H1 rủ Đ cùng đi sử dụng ma túy thì Đ đồng ý. Khi đến nhà hoang, H, K và L đã sử dụng 03 viên ma túy. H tiếp tục đốt ma túy cho L, K, H1, Đ và H thay nhau sử dụng với phương thức như trên. Đến 20 giờ 15 phút cùng ngày, trong lúc các đối tượng đã sử dụng hết 07 viên ma túy, còn lại 01 viên giữa chiếu thì bị Công an xã B bắt quả tang cùng tang vật.
Tại Bản kết luận giám định số 101/GĐ ngày 15 tháng 02 năm 2024 của Phòng K3 Công an tỉnh T kết luận: Chất trong các mẫu vật giám định là ma túy, loại Methamphetamine.
Ngày 07/02/2024, qua thử test nước tiểu phát hiện Lê Võ Sĩ H, Lê Văn L, Nguyễn Trần K, Lê Thanh H1, Lê Ngọc Đ dương tính với ma tuý loại Methamphetamine.
* Vật chứng vụ án đã trả lại cho chủ sở hữu: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda - Vision mang BKS 75K1 - 272.04; 01 xe mô tô mang nhãn hiệu Yamaha-Sirius BKS 75-D1 390.16; 01 xe mô tô mang nhãn hiệu Honda- Blade BKS 75L1-169.36.
* Vật chứng hiện còn tạm giữ: 05 que thử nhanh ma túy được niêm phong bên trong phong bì giấy; 01 chai nhựa màu trong suốt, bên ngoài có nhãn ghi chữ Number 1 bị xé dở, cách đáy chai khoảng 2cm có đục một lõ tròn nhỏ đường kính khoảng 0,4cm, có 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng (Năm nghìn đồng-tình trạng đã bị hư hỏng) được quấn tròn nhét vào lỗ chai; 01 chai nhựa màu trong suốt, bên ngoài không có nhãn mác, trên vỏ chai có viền nhựa tròn màu đỏ, cách đáy chai khoảng 3cm có đục một lỗ tròn nhỏ đường kính khoảng 0,5cm; có 01 ống tre dài khoang 10 cm được vót nhọn hai đầu nhét vào lỗ chai; 03 mẫu giấy bạc bị cháy sém; 01 mẫu giấy bạc bị bóp dẹp một đầu; 01 bật lửa màu xanh; 01 chiếc chiếu nhựa đã cũ;
+ 01 điện thoại di động hiệu OPPO A53 của Lê Văn L; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy A10 của Lê Thanh H1.
Tại cơ quan điều tra, bị cáo Lê Võ Sĩ H, Lê Văn L, Nguyễn Trần K, Lê Thanh H1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2024/HS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Lê Võ Sĩ H, Lê Thanh H1, Lê Văn L và Nguyễn Trần K phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Lê Võ Sĩ H, Lê Thanh H1, Lê Văn L và Nguyễn Trần K; áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Lê Võ Sĩ H và Lê Thanh H1;
Xử phạt bị cáo Lê Võ Sĩ H 07 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 07/02/2024.
Xử phạt bị cáo Lê Thanh H1 07 năm 03 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 07/02/2024.
Xử phạt bị cáo Lê Văn L 07 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 07/02/2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trần K 07 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 07/02/2024.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 30/8/2024, các bị cáo Lê Võ Sĩ H, Lê Thanh H1, Lê Văn L (tức: Mèo) và Nguyễn Trần K (tức: P1), đều có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế có quan điểm về tính hợp pháp của kháng cáo của các bị cáo và Toà án cấp sơ thẩm đã xử phạt các bị cáo Lê Võ Sĩ H 07 (bảy ) năm 06 (sáu) tháng tù, Lê Thanh H1 07 (bảy) năm 03 (ba) thàng tù, Lê Văn L (bảy) năm tù và Nguyễn Trần K 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự là không nặng, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật Tại phiên toà phúc thẩm các bị cáo không cung cấp tình tiết nào mới, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Võ Sĩ H, Lê Thanh H1, Lê Văn L (tên gọi khác: M) và Nguyễn Trần K (tên gọi khác: P) về xin giảm nhẹ hình phạt, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 41/2024/HS-ST ngày 19/8/2024 của Toà án nhân dân thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo Lê Võ Sĩ H, Lê Thanh H1 Lê Văn L và Nguyễn Trần K trong thời hạn kháng cáo và có nội dung phù hợp với quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung vụ án:
Đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ ngày 07/02/2024, Lê Võ Sĩ H, Lê Thanh H1, Lê Văn L và Nguyễn Trần K đã có hành vi chuẩn bị 08 viên ma túy, loại Methamphetamine, chuẩn bị các công cụ để cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và cho đối tượng Lê Văn Đ1 sử dụng tại căn nhà hoang thuộc thôn B, xã B, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế do chị Đặng Ngọc Thiện Ý làm chủ sở hữu. Đến 20 giờ 15 phút cùng ngày, khi các đối tượng đã sử dụng hết 07 viên ma túy, còn lại 01 viên ma túy giữa chiếu thì bị Công an xã B, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế bắt quả tang cùng tang vật. Với hành vi nêu trên, Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế đã kết án các bị cáo Lê Võ Sĩ H, Lê Thanh H1, Lê Văn L và Nguyễn Trần K về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Lê Võ Sĩ H, Lê Thanh H1, Lê Văn L và Nguyễn Trần K, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Các bị cáo Lê Võ Sĩ H, Lê Thanh H1, Lê Văn L và Nguyễn Trần K đều là những người có đầy đủ năng lực, trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi cùng nhau chuẩn bị ma túy, công cụ, địa điểm để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của các bị cáo không những xâm hại trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, mà còn gây ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người, ảnh hưởng đến sự phát triển nòi giống, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội nên cần phải xử lý nghiêm nhằm giáo dục các bị cáo, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đặc điểm nhân thân của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt các bị cáo Lê Võ Sĩ H 07 năm 06 tháng tù, Lê Thanh H1 07 năm 03 tháng tù, Lê Văn L 07 năm tù và Nguyễn Trần K 07 năm tù là không nặng, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra và phù hợp với quy định pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Võ Sĩ H, Lê Thanh H1, Lê Văn L và Nguyễn Trần K không đưa ra được tình tiết giảm nhẹ mới khác ngoài các tình tiết giảm nhẹ đã được xem xét tại cấp sơ thẩm. Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Võ Sĩ H, Lê Thanh H1, Lê Văn L và Nguyễn Trần K về xin giảm nhẹ hình phạt, mà cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế tại phiên toà là phù hợp.
[4] Về án phí: Do kháng cáo của các bị cáo không được chấp nhận, nên buộc các bị cáo Lê Võ Sĩ H, Lê Thanh H1, Lê Văn L (tên gọi khác: M) và Nguyễn Trần K (tên gọi khác: P) phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Võ Sĩ H, Lê Thanh H1, Lê Văn L (tên gọi khác: M) và Nguyễn Trần K (tên gọi khác: Pai); giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 41/2024/HS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Tuyên bố các bị cáo Lê Võ Sĩ H, Lê Thanh H1, Lê Văn L (tên gọi khác: M) và Nguyễn Trần K (tên gọi khác: P) phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Lê Võ Sĩ H, Lê Thanh H1, Lê Văn L (tên gọi khác: M) và Nguyễn Trần K (tên gọi khác: Pai); áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Lê Võ Sĩ H và Lê Thanh H1;
Xử phạt bị cáo Lê Võ Sĩ H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 07/02/2024.
Xử phạt bị cáo Lê Thanh H1 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 07/02/2024.
Xử phạt bị cáo Lê Văn L (tên gọi khác: M) 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 07/02/2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trần K (tên gọi khác: P) 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 07/02/2024.
- Về án phí: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc các bị cáo Lê Võ Sĩ H, Lê Thanh H1, Lê Văn L (tên gọi khác: M) và Nguyễn Trần K (tên gọi khác: P) mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Trọng Cẩn |
Bản án số 111/2024/HS-PT ngày 08/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 111/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
