TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 111/2024/HS-PT Ngày 05/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Hải Hường
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Chuyền
Bà Hoàng Thị Thu Hiền
- Thư ký phiên toà: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Hoàng Tùng - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 05/7/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 24/2024/TLPT-HS ngày 14 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Lê Văn T do có kháng cáo của bị cáo T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2024/HS-ST ngày 04/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 152/2024QĐXXPT-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024.
* Bị cáo bị kháng cáo:
Họ và tên: Lê Văn T, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1992 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn S, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Sán Dìu; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Thế H và bà Nguyễn Thị T1; Có vợ là Phan Thị H1 và 03 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đầu thú, bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; Hiện tại ngoại; Có mặt.
* Bị hại: Cháu Nguyễn Thị Ngọc Q, sinh ngày 06/7/2013 (đã chết).
Người đại diện của bị hại: anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1975 và chị Thân Thị Y, sinh năm 1981; Đều cư trú: Thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
* Trong vụ án có một số người than gia tố tụng khác nhưng không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 18/11/2023, Lê Văn T điều khiển xe ô tải nhãn hiệu TMT, loại xe tự đổ, biển số 14C-166.10 đi chở gạch cho khách tại xưởng gạch ở thôn L, xã N, huyện L. T điều khiển xe ô tô đi trên đường T hướng thị trấn C đi xã N đi qua cầu C (cầu mới) để rẽ trái vào đường liên thôn T, xã N. Lúc này cháu Nguyễn Thị Q1, sinh ngày 02/8/2011, trú tại thôn T, xã N điều khiển chiếc xe đạp điện nhãn hiệu GIANS Sport, không gắn biển số chở sau là cháu Nguyễn Thị Thảo M, sinh ngày 15/01/2022 và Nguyễn Thị Ngọc Q, sinh ngày 06/7/2013, cùng trú tại thôn T, xã N đi từ đường liên thôn T để nhập vào đường T. Đến khoảng 16 giờ 55 phút cùng ngày, khi T vừa điều khiển xe ô tô qua cầu C, đến ngã tư giao nhau giữa đường liên thôn T và km15+795 đường tỉnh 289 thuộc địa phận thôn T, xã N, T bật đèn xi nhan rẽ trái nhưng không bấm còi, sau đó điều khiển xe ô tô rẽ trái vào đường thôn T nhưng không đi đúng phần đường của mình mà đi sang phần đường do cháu Nguyễn Thị Q1 điều khiển xe đạp điện, dẫn đến xe ô tô do T điều khiển va chạm với xe đạp điện do cháu Q1 điều khiển, hậu quả xe đạp điện bị đổ, 3 cháu bị ngã ra đường. T nhờ người dân đưa 3 cháu đi cấp cứu. Quá trình cấp cứu cháu Nguyễn Thị Ngọc Q tử vong, cháu Q1 và cháu M bị thương. Cùng ngày, Lê Văn T đã đến Công an huyện L đầu thú, đồng thời giao nộp 01 Giấy phép lái xe hạng D mang tên Lê Văn T. Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra nồng độ cồn và kiểm tra việc sử dụng chất ma túy đối với Lê Văn T, kết quả kiểm ra nồng độ cồn là 0,000mg/l; kết quả kiểm tra việc sử dụng chất ma túy: Âm tính.
Sau khi xảy ra sự việc, Cơ quan điều tra đã phối hợp với Viện kiểm sát và cơ quan chuyên môn tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám phương tiện, khám nghiệm tử thi.
* Kết quả khám nghiệm tử thi Nguyễn Thị Ngọc Q có các dấu vết chính như sau: Trên cơ thể có các tổn thương sưng nề, sây sát, mài sát, dập rách da, bầm tím tập trung tại vùng đầu, mặt, thân mình và tứ chi; bầm tím xung quanh hốc mắt trái; hai lỗ mũi và khoang miệng có máu chảy từ trong ra. Khám trong: Kiểm tra vết rách da vùng đỉnh chẩm thấy: Bầm tụ máu tổ chức dưới ra, vỡ sập phức tạp xương hộp sọ vùng đỉnh chẩm; qua đường vỡ để lộ tổ chức não dập nát; thu giữ mẫu máu của tử thi Nguyễn Thị Ngọc Q.
* Kết quả giám định cơ chế hình thành dấu vết vụ tai nạn: Tại bản Kết luận giám định số 2540 ngày 22/12/2023 của phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- Dấu vết chùn cong, trượt xước sơn, kim loại, bám dính chất màu xanh, dạng sơn, hướng từ trước ra sau ở mặt trước giá gắn giỏ xe và đầu dưới thanh kiam loại hệ thống lái bên phải của xe máy điện nhãn hiệu Gians Sport (ảnh 16, 17 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết lõm, trượt xước kim loại, mất sơn, hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải ở mặt trước, dưới cản
2
trước của xe ô tô biển kiểm soát 14C-166.10 (ảnh 11, 12, 13 bản ảnh khám nghiệm phương tiện).
Dấu vết vỡ nhựa, chùn cong kim loại, bám dính bụi đất và chất màu đen (dạng cao su), hướng từ phải sang trái ở bên phải của xe máy điện nhãn hiệu Gians Sport gồm để chân trước, yên, khung kim loại dưới yên và để chân sau phù hợp với dấu vết trượt xước cao su, sạch bụi đất, hướng ngược chiều chuyển động tiến ở mặt lăn, má lốp bánh trước và bánh sau bên phải của xe ô tô biển kiểm soát 14C-166.10 (ảnh 16, 17 bản ảnh khám nghiệm phương tiện).
- Dấu vết trượt xước sơn, nhựa, chùn cong kim loại, bám dính chất màu trắng (dạng bột đá) ở bên trái của xe máy điện nhãn hiệu Gians Sport gồm: tay nắm, để chân trước, yên, thanh kim loại dưới yên, để chân sau (ảnh 25, 29, 31, 32 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) được hình thành do va chạm với vật tày cứng, như mặt đường tạo nên.
- Vị trí va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 14C-166.10 và xe máy điện nhãn hiệu Gians Sport trên mặt đường, tại trước điểm đầu dấu vết cày xước ký hiệu số 1, thuộc chiều phương tiện chuyển động bên phải theo hướng nhà văn hoá thôn T đi tỉnh lô 298 (khi chia mặt đường thành hai phần bằng nhau).
- Chiều hướng va chạm: Tại thời điểm xảy ra tai nạn xe ô tô biển kiểm soát 14C-166.10 chuyển động theo hướng từ tỉnh lộ 298 đi nhà văn hoá thôn T va chạm với xe máy điện nhãn hiệu Gians Sport ở phía trước ngược chiều.
- Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học.
* Kết quả giám định nguyên nhân chết của Nguyễn Thị Ngọc Q: Tại bản Kết luận giám định số 2357 ngày 01/12/2023 của phòng K Công an tỉnh B kết luận: Nguyên nhân chết của tử thi Nguyễn Thị Ngọc Q do chấn thương sọ não: Vỡ phức tạp xương hộp sọ vùng đỉnh chẩm. Cơ chế hình thành dấu vết: Các tổn thương sưng nề, bầm tím, sây sát, mài sát, rập dách da được hình thành do tác động với vật tày, có các hình dạng và diện tiếp xúc khác nhau theo nhiều chiều hướng tạo nên. Tổn thương vỡ xương hộp dọ vùng đỉnh chẩm được hình thành do tiếp xúc với vật tày, lực tác động mạnh trực tiếp tạo nên.
* Giám định mẫu máu: Tại Kết luận giám định số 2387 ngày 08/12/2023 của phòng K Công an tỉnh B kết luận: Trên mẫu được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “Mẫu thu tại vị trí số 7” gửi giám định có máu người, nhóm máu O; mẫu máu của Nguyễn Thị Ngọc Q được niêm phong gửi giám định thuộc nhóm máu O.
* Kết quả giám định thương tích: Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể số 2049, 2050 ngày 25/01/2024 của Trung tâm P Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận: Tỷ lệ thôn thương cơ thể của cháu Nguyễn Thị Q1 tại thời điểm giám định là 9%. Tỷ lệ thôn thương cơ thể của cháu Nguyễn Thị Thảo M tại thời điểm giám định là 3%.
3
* Kết quả định giá tài sản: Tại Kết luận định giá tài sản số 192, 193 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: Các bộ phận của xe ô tô tải nhãn hiệu TMT, biển số 14C-166.10 bị hư hỏng có giá trị là 3.100.000đ. Các bộ phận của xe đạp điện nhãn hiệu GIANS Sport, không biển số bị hư hỏng có giá trị là 3.940.000đ.
Ngày 18/11/2023, Cơ quan điều tra thu giữ 01 thẻ nhớ, nhãn hiệu picneer được thu từ camera hành trình xe ô tô biển số 14C-166.10. Cùng ngày, Cơ quan điều tra thu giữ 01 file video thời lượng 03 phút 43 giây, thời gian hiển thị từ 16 giờ 55 phút 53 giây đến 16 giờ 59 phút 36 giây ngày 18/11/2023 được trích xuất từ camera an ninh nhà chị Phạm Thị T2, sinh năm 1983, trú tại thôn T, xã N, huyện L ghi hình ảnh vụ tai nạn. Ngày 20/11/2023 và 18/02/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Lê Văn T xem hình ảnh từ hai video đã thu giữ ở trên, xác định diễn biến quá trình xảy ra tai nạn là đúng (như lời khai) của T.
Ngày 18/11/2023, Cơ quan điều tra đã tạm giữ của Lê Văn T 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 023752, biển số đăng ký 14C-166.10; 01 giấy chứng nhận kiểm định số EA2192139, biển số đăng ký 14C-166.10; 01 giấy phép lái xe hạng D số [...] mang tên Lê Văn T.
* Về trách nhiệm dân sự: Lê Văn T đã bồi thường cho gia đình cháu Nguyễn Thị Ngọc Q số tiền 200.000.000đồng (Hai trăm triệu); bồi thường cho cháu Nguyễn Thị Q1, cháu Nguyễn Thị Thảo M tổng số tiền 70.000.000đồng. Gia đình cháu Q và cháu Q1, cháu M không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1985 là bố đẻ cháu Q1 là chủ sở hữu chiếc xe đạp điện mà cháu Q1 điều khiển, tuy nhiên anh H2 không được giao và không biết cháu Q1 điều khiển xe đạp điện tham gia giao thông nên không có căn cứ để xử lý đối với anh H2. Chiếc xe ô tô tải biển số 14C-166.10 là của ông Lê Thế H, sinh năm 1972, trú tại thôn S, xã Q, huyện L (bố đẻ Lê Văn T), ông H không yêu cầu bồi thường gì nên không đặt ra xem xét giải quyết.
* Với hành vi phạm tội nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2024/HS-ST ngày 04/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang quyết định:
Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 41 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Văn T 02 (hai) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
Cấm bị cáo hành nghề lái xe trong thời hạn 02 (hai) năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 05/4/2024, bị cáo Lê Văn T kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
4
* Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày: Bản án sơ thẩm xử như vậy là đúng người đúng tội nhưng phạt tù giam bị cáo là nặng. Bị cáo có hành cảnh khó khăn, nhận thức việc làm của mình là sai do thiếu quan sát, không đi đúng làn, phần đường của mình nên đã xảy ra hậu quả như trên. Bị cáo ân hận việc hành vi của mình và xin lỗi gia đình bị hại. Năm 2023 và năm 2024 bị cáo tham gia ủng hộ quỹ nhân đạo, quá trình sống ở địa phương luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật, tham gia ủng hộ đầy đủ các loại quỹ và được chính quyền địa phương ghi nhận, tự nguyện nộp án phí người bị hại tiếp tục có đơn xin cho bị các được hưởng án treo. Bị cáo đề nghị cho bị cáo được hưởng hưởng khoan hồng của pháp luật để bị cáo có cơ hội sửa chữa.
* Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi nhận định các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và căn cứ xác định bồi thường thiệt hại đã kết luận và đề nghị HĐXX: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn T. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2024/HS-ST ngày 04/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xử phạt bị cáo Lê Văn T 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời gian thử thách 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Lê Văn T cho UBND xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Bị cáo T không tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Xét hành vi của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với với kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, phù hợp với vật chứng đã thu được. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 16 giờ 55 phút ngày 18/11/2023, khi Lê Văn T là người đã có giấy phép lái xe ô tô hạng D, điều khiển chiếc xe ô tô biển số 14C-166.10 đi qua cầu C, đến ngã tư giao nhau giữa đường liên thôn T với đường T thuộc địa phận thôn T, xã N, T bật đèn xi nhan rẽ trái nhưng không bấm còi, sau đó điều khiển xe ô tô rẽ trái vào đường thôn T nhưng không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn, không chú ý quan sát, không đi đúng phần đường của mình mà đi lấn sang phần đường do cháu Nguyễn Thị Q1 đang điều khiển xe đạp điện, chở theo sau là cháu Nguyễn Thị Thảo M và Nguyễn Thị Ngọc Q dẫn đến
5
xe ô tô do T điều khiển va chạm với xe đạp điện do cháu Q1 điều khiển. Hậu quả cháu Nguyễn Thị Ngọc Q tử vong, cháu Nguyễn Thị Q1 bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 09%; cháu Nguyễn Thị Thảo M bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03%.
Như vậy, bị cáo T khi tham gia giao thông, điều khiển phương tiện chuyển hướng nhưng không đảm bảo an toàn, không chú ý quan sát, không đi đúng làn, phần đường, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn dẫn đến va chạm với xe đạp điện do cháu Q1 điều khiển. Nguyên nhân xảy ra tai nạn là do lỗi của Lê Văn T. Hành vi của Lê Văn T đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9; khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ; khoản 1, 2 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G.
Hành vi phạm tội của cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự an toàn giao thông đường bộ và xâm phạm đến sức khỏe và tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, mặc dù bị cáo có giấy phép lái xe nhưng khi tham gia giao thông bị cáo đã không tuân thủ quy định của Luật giao thông đường bộ. Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, không oan sai.
Tại phiên tòa, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo nên các vấn đề khác của án sơ thẩm đã tuyên về tội danh, điều luật áp dụng, phạt bổ sung. Án phí sơ thẩm có hiệu lực pháp luật, HĐXX phúc thẩm không đặt ra giải quyết.
[2]. Xét kháng cáo của bị cáo xin hưởng án treo Hội đồng xét xử thấy:
Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo cũng như tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm của hành vi bị cáo đã thực hiện, xử phạt bị cáo Lê Văn T 2 năm tù là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa tội phạm trong xã hội. Tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo T xuất trình thêm tài liệu chứng cứ: năm 2023 và năm 2024 bị cáo tham gia ủng hộ quỹ nhân đạo, quá trình sống ở địa phương luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật, tham gia ủng hộ đầy đủ các loại quỹ và được chính quyền địa phương ghi nhận, tự nguyện nộp án phí, người bị hại tiếp tục có đơn xin cho bị các được hưởng án treo. Do vậy, áp dụng thêm cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với T. Trong vụ án này cháu Nguyễn Thị Q1 chưa đủ tuổi điều khiển xe theo quy định, vi phạm Điều 60 Luật Giao thông đường bộ, tuy nhiên đây không phải nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tai nạn. Cháu Q1 chưa đủ tuổi xử phạt hành chính nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.
Căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm về nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm. Bị cáo T là người có nhân thân
6
tốt, chưa có tiền án tiền sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra, người bị hại xin cho bị cáo được hưởng án treo. Bị cáo phạm tội lần đầu do lỗi vô ý, có địa chỉ cư trú rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự. Việc không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù không gây ảnh hưởng xấu trong quá trình đấu tranh phòng chống tội phạm, không gây nguy hiểm cho xã hội. Để đảm bảo tính nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước, không cần bắt bị cáo phải cách ly khỏi xã hội, mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp hướng dẫn tại Điều 65 Bộ luật hình sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
[3]. Về án phí: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn T. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2024/HS-ST ngày 04/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Xử:
Căn cứ điểm a khoản 1 và khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Văn T 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” thời gian thử thách 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Cấm bị cáo Lê Văn T hành nghề lái xe trong thời hạn 02 (hai) năm, kể từ ngày bản án có lực pháp luật.
Giao bị cáo Lê Văn T cho UBND xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
7
2. Về án phí: Bị cáo T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Hải Hường |
8
Bản án số 111/2024/HS-PT ngày 05/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về hình sự phúc thẩm (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
- Số bản án: 111/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Thanh phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
