Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 111/2024/DS-ST

Ngày: 26 - 9 - 2024

V/v Tranh chấp nghĩa vụ thanh toán

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH - TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Phúc Thị Thu Hà.

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Đức Binh
  2. Bà Nguyễn Thị Bình

- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Văn Ngọc – Thư ký tòa án nhân dân huyện Đức Linh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Tốt - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý: 217/2024/TLST-DS, ngày 24 tháng 5 năm 2024, về tranh chấp nghĩa vụ thanh toán, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 308/2024/QĐXXST-DS, ngày 02 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 238/2024/QĐST-DS, ngày 16 tháng 9 năm 2024 và Quyết định thay đổi hội thẩm nhân dân số 101/2024/QĐ-TĐ, ngày 25 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm: 1979. Nơi cư trú: Ấp V, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Bị đơn: Bà Trần Thị Thùy L, sinh năm: 1979 và ông Nguyễn Trung G, sinh năm: 1979. Nơi cư trú: Tổ H, thôn A, xã N, tỉnh Bình Thuận

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Hồ Trọng C, sinh năm: 1971. Nơi cư trú: Ấp V, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Tại phiên tòa có mặt bà Nguyễn Thị Ngọc T, bà Trần Thị Thùy L, ông Nguyễn Trung G và ông Hồ Trọng C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 14/5/2024, bản tự khai, biên bản hòa giải, biên bản về việc kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, các tài liệu khác có trong hồ sơ và tại phiên tòa, nguyên đơn Nguyễn Thị Ngọc T trình bày: Bà chuyên cung cấp cám, giống vịt đẻ trứng tại ấp V, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Trong năm 2023 và 2024, vợ chồng bà Trần Thị Thùy L và ông Nguyễn Trung G đã mua bán vịt giống và cám vịt của bà mà chưa thanh toán, cụ thể:

- Lần 1 ngày 25/3/2023 vợ chồng bà Trần Thị Thùy L và ông Nguyễn Trung G có mua của bà Nguyễn Thị Ngọc T tổng cộng 5000 con vịt x 120.000 đồng/con= 600.000.000 đồng mà chưa thanh toán tiền, ông G, bà L hứa đến ngày 25/3/2024 sẽ thanh toán, nhưng từ đó đến nay vẫn không trả nợ cho bà;

- Lần 2 là vào ngày 20/2/2024, bà Trần Thị Thùy L và ông Nguyễn Trung G có mua cám vịt của bà Nguyễn Thị Ngọc T có nợ số tiền 647.000.000 đồng, hẹn đến ngày 20/4/2024 sẽ thanh toán nợ gốc nhưng từ đó đến nay cũng không thanh toán cho bà.

Nay bà yêu cầu vợ chồng ông Trần Trung G1 và bà Trần Thị Thùy L phải thanh toán cho vợ chồng bà tổng số tiền nợ gốc là 1.247.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm bốn mươi bảy triệu đồng) và tiền lãi được tính kể từ ngày vi phạm nghĩa vụ trả nợ, theo mức lãi suất 0.83%/tháng, cụ thể tiền lãi được tính như sau:

- Đối với số tiền 600.000.000 đồng, tính lãi từ ngày 26/3/2024 đến ngày 26/9/2024 là 6 tháng x 600.000.000 đồng x 0.83%/tháng =29.880.000 đồng

- Đối với số tiền 647.000.000 đồng, tính lãi kể từ ngày 21/4/2024 đến ngày 26/9/2024 là 5 tháng 6 ngày x 647.000.000 đồng x 0.83%/tháng = 27.924.000 đồng.

Bà Nguyễn Thị Ngọc T có chồng là ông Hồ Trọng C, đây là số tiền chung của vợ chồng bà, bà yêu cầu ông Nguyễn Trung G và bà Trần Thị Thùy L phải liên đới trả cho bà tổng số tiền 1.304.804.000 đồng (Một tỷ ba trăm linh bốn triệu tám trăm linh bốn nghìn đồng)

Tại bản tự khai, biên bản hòa giải, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, bị đơn Trần Thị Thùy L trình bày: Bà hoàn toàn thống nhất với ý kiến trình bày của bà Nguyễn Thị Ngọc T. Vào năm 2023 và năm 2024 vợ chồng bà có mua vịt con giống và cám vịt có nợ của bà Nguyễn Thị Ngọc T và nợ tổng số tiền là 1.247.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm bốn mươi bảy triệu đồng), vợ chồng bà có ký hai giấy nợ vào ngày 25/3/2023 và ngày 20/2/2024 như bà T trình bày ở trên. Do thời gian qua chăn nuôi gặp dịch bệnh nên thất thu, không có khả năng trả một lần nên bà xin trả dần. Tuy nhiên, bà T không đồng ý thỏa thuận cho trả dần nên quá trình hòa giải không thành. Nay bà đồng ý trả cho vợ chồng bà T số tiền nợ gốc là 1.247.000.000 đồng và tiền lãi là 57.804.000 đồng như bà T trình bày.

Tại phiên tòa, bị đơn Nguyễn Trung G trình bày: Ông đồng ý với ý kiến của vợ anh là bà Trần Thị Thùy L, ông thừa nhận vợ chồng ông có mua bán vịt giống và cám vịt còn nợ tiền của bà Nguyễn Thị Ngọc T tổng số tiền là 1.247.000.000 đồng, ông mong muốn được trả dần hàng tháng cho đến khi hết số nợ này.

Do chăn nuôi bị thua lỗ, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên vợ chồng bà Trần Thị Thùy L và ông Nguyễn Trung G có đơn xin giảm án phí DSST.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Hồ Trọng C: Ông hoàn toàn thống nhất với ý kiến của vợ anh là bà Nguyễn Thị Ngọc T, ông không trình bày gì thêm.

Tòa án đã tiến hành hòa giải để các đương sự tự thỏa thuận với nhau về các vấn đề có tranh chấp trong vụ án nhưng bị đơn Nguyễn Trung G vắng mặt nên việc hòa giải không thành.

Ý kiến của kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật của thẩm phán, Hội đồng xét xử, của các đương sự và phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

- Về thủ tục tố tụng:

  • + Thẩm phán đã chấp hành đúng pháp luật.
  • + Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của pháp luật
  • + Các đương sự đã chấp hành đúng quy định của pháp luật.
  • + Bị đơn đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình

- Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị đơn cùng thừa nhận số tiền nợ là 1.247.000.000 đồng mà nguyên đơn yêu cầu. Bị đơn cũng đồng ý trả số tiền nợ này và tiền lãi cho nguyên đơn, nên cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa là phù hợp

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của nguyên đơn, bị đơn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết là tranh chấp về nghĩa vụ thanh toán quy định tại Điều 280 và Điề 357 Bộ luật dân sự năm 2015

Căn cứ quy định tại khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

[2] Nội dung vụ án:

Xét thấy, tại phiên tòa nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất nội dung:

- Lần 1 ngày 25/3/2023 vợ chồng bà Trần Thị Thùy L và ông Nguyễn Trung G có mua của bà Nguyễn Thị Ngọc T tổng cộng 5000 con vịt x 120.000 đồng/con= 600.000.000 đồng mà chưa thanh toán tiền, ông G, bà L hứa đến ngày 25/3/2024 sẽ thanh toán, nhưng từ đó đến nay vẫn không trả nợ cho bà;

- Lần 2 là vào ngày 20/2/2024, bà Trần Thị Thùy L và ông Nguyễn Trung G có mua cám vịt của bà Nguyễn Thị Ngọc T có nợ số tiền 647.000.000 đồng, hẹn đến ngày 20/4/2024 sẽ thanh toán nợ gốc nhưng từ đó đến nay cũng không thanh toán cho bà.

Tại phiên tòa vợ chồng ông Nguyễn Trung G và bà Trần Thị Thùy L đồng ý liên đới trả cho vợ chồng bà Nguyễn Thị Ngọc T và ông Hồ Trọng C tổng số tiền1.304.804.000 đồng (Một tỷ ba trăm linh bốn triệu tám trăm linh bốn nghìn đồng), trong đó, nợ gốc là 1.247.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 26/9/2024 là 57.804.000 đồng . Lời trình bày của nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất với nhau và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cho thấy việc vợ chồng ông Nguyễn Trung G và bà Trần Thị Thùy L có mua bán cám vịt và vịt con giống còn nợ của vợ chồng bà Nguyễn Thị Ngọc T và ông Hồ Trọng C tổng số tiền 1.247.000.000 đồng là đúng sự thật Nhưng bà L và ông giang đã vi phạm thời hạn thanh toán. Tại phiên tòa ông Nguyễn Trung G và bà Trần Thị Thùy L thống nhất số tiền nợ và đồng ý trả cho bà Nguyễn Thị Ngọc T, đây là ý kiến tự nguyện của các đương sự, không bị ai ép buộc và không trái với các quy định của pháp luật nên được công nhận.

Về tiền lãi: lãi tạm tính đến ngày 26/9/2024 là 57.804.000 đồng, bị đơn cũng thống nhất và đồng ý trả cho nguyên đơn, nên được công nhận. Nguyên đơn xin rút lại một phần yêu cầu đối với số tiền lãi là 24.781.000 đồng, đây là ý kiến tự nguyện của nguyên đơn nên cần đình chỉ một phần yêu cầu của nguyên đơn.

[3] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và bị đơn có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[4] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xét thấy yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí DSST, được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp. Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật, nhưng do hoàn cảnh kinh tế khó khăn do chăn nuôi thua lỗ nên được xem xét giảm ½ tiền án phí theo quy định.

[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.

[6] Ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là có căn cứ và phù hợp với nội dung vụ án.

Ý kiến của kiểm sát viên là phù hợp với nội dung vụ án, nên cần chấp nhận

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 278, Điều 280, Điều 288, Điều 351, Điều 353, Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014, tuyên xử:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền lãi là 24.781.000 đồng
  2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
  3. Ông Nguyễn Trung G và bà Trần Thị Thùy L có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Ngọc T và ông Hồ Trọng C tổng số tiền 1.304.804.000 đồng (Một tỷ ba trăm linh bốn triệu tám trăm linh bốn nghìn đồng), trong đó, nợ gốc là 1.247.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 26/9/2024 là 57.804.000 đồng.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và bị đơn có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  4. Về án phí DSST:
  5. Bà nguyễn Thị Ngọc T không phải chịu án phí DSST, được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí là 25.943.000 đồng (hai mươi lăm triệu chín trăm bốn mươi ba nghìn đồng) mà bà T đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004527, ngày 24/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh.

    Bà Trần Thị Thùy L và ông Nguyễn Trung G có nghĩa vụ liên đới nộp số tiền án phí DSST là 25.572.000 đồng (Hai mươi lăm triệu năm trăm bảy mươi hai nghìn đồng), (đã xem xét giảm 50% án phí DSST cho ông G và bà L theo đơn xin xác nhận khó khăn của ông, bà), án phí nộp tại chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh

  6. Về quyền kháng cáo: Báo cho các nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày tròn, kể từ ngày tuyên án (26/9/2024), để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
  7. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Đức Linh;
  • - Chi cục THA huyện Đức Linh;
  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh;
  • - Lưu HSVA, QĐ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Phúc Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 111/2024/DS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH - TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp nghĩa vụ thanh toán

  • Số bản án: 111/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp nghĩa vụ thanh toán
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH - TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN THỊ NGỌC T TRANH CHẤP NGHĨA VỤ THANH TOÁN TRẦN THỊ THÙY L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger