Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 111/2024/DS-ST

Ngày: 27 - 9 - 2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM,

TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Huỳnh Sinh.
  2. Ông Nguyễn Văn Hiển.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Long – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Yến – Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 204/2024/TLST-DS ngày 21 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/QĐXX-ST, ngày 21/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 97/2024/QĐ-HPT, ngày 06/9/2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ Việt Nam.

Địa chỉ trụ sở: Tháp B, số 194 T, phường L, Quận H, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T. Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Đ Việt Nam.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trình Kiên T - Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP Đ Việt Nam - Chi nhánh Ninh Thuận (theo Quyết định số 963/QĐ-BIDV ngày 25/10/2021 của Ngân hàng TMCP Đ Việt Nam về việc Ủy quyền tham gia tố tụng).

Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Trần Đức T - Chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng TMCP Đ Việt Nam - Chi nhánh Ninh Thuận (theo Quyết định số 08/QĐ-BIDV.NT ngày 02/01/2024 của Giám đốc Ngân hàng TMCP Đ Việt Nam – Chi nhánh Ninh Thuận về việc Ủy quyền tham gia tố tụng).

Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Trần Huy H – Chuyên viên phụ trách xử lý nợ - Ngân hàng TMCP Đ Việt Nam – Chi nhánh Ninh Thuận (theo Quyết định ủy quyền tham gia tố tụng số 101/QĐ-BIDV.NT ngày 01/4/2023) (có mặt).

Địa chỉ: Số 138 đường 21/8, phường P, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.

2. Bị đơn: Bà Trương Thị L, sinh năm 1979.

Địa chỉ: Khu phố 6, phường V, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa hôm nay đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

- Ngày 11/7/2017, bà Trương Thị L có ký với Ngân hàng TMCP Đ Việt Nam (viết tắt là Ngân hàng) Hợp đồng tín dụng (Áp dụng đối với khoản vay theo món của khách hàng bán lẻ) số hợp đồng: K632/01/2017/HĐTD với số tiền vay là 200.000.000 đồng. Thời hạn vay: 60 tháng, với mục đích vay phục vụ nhu cầu đời sống. Lãi suất áp dụng đối với số tiền vay tại thời điểm ký Hợp đồng tín dụng và giải ngân là: Từ ngày vay đến ngày 30/9/2017 là 10%/năm. Lãi suất vay hiện nay là 12,5%/năm. Số tiền trả nợ gốc, nợ lãi là 4.260.000 đồng/ tháng bắt đầu từ tháng 8/2017 cho đến khi hoàn tất nghĩa vụ trả nợ.

Tính đến ngày 27/9/2024 bà L đã trả cho Ngân hàng được số tiền: 98.500.000 đồng, trong đó: Số tiền gốc đã trả: 121.692.122 đồng, số tiền lãi đã trả: 61.709.526 đồng. Còn nợ ngân hàng số tiền là 113.649.387 đồng, trong đó: Nợ gốc: 78.307.878 đồng, nợ lãi là 29.203.563 đồng, lãi phạt: 6.137.946 đồng.

- Ngày 28/9/2019, bà Trương Thị L có ký với Ngân hàng Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi (áp dụng đối với Khách hàng cá nhân vay thấu chi) số hợp đồng 3086581/HĐ với số tiền vay là 35.000.000 đồng. Thời hạn vay: 12 tháng, với mục đích vay Phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và gia đình. Lãi suất thấu chi: 11,2%/năm. Lãi quá hạn: 150 % lãi suất trong hạn. Lãi chậm trả 1%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Tính đến ngày 27/9/2024 bà L còn nợ ngân hàng số tiền là 51.456.999 đồng, trong đó: Nợ gốc là 34.946.300 đồng, nợ lãi là 10.897.501 đồng, lãi phạt là 5.613.198 đồng.

Thời điểm vay tiền của Ngân hàng bà L đang công tác tại Trường trung học cơ sở Đinh Bộ Lĩnh nên đã đồng ý ủy quyền cho Ngân hàng tự động trích tài khoản cá nhân của bà L để thu nợ hàng tháng theo số tài khoản mở tại Ngân hàng.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Trương Thị L đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng được ký kết giữa hai bên. Vì vậy, Ngân hàng TMCP Đ Việt Nam đã tiến hành khởi kiện bà L ra Tòa án. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng ông Trần Huy Hoàng đề nghị Tòa án giải quyết buộc bà Trương Thị L phải trả cho Ngân hàng TMCP Đ Việt Nam với tổng số tiền tính đến ngày 27/9/2024 là 165.106.386 đồng, trong đó: Nợ gốc là 113.254.178 đồng, nợ lãi là 40.101.064 đồng, nợ lãi quá hạn 11.751.144 đồng và phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh đối với số nợ gốc chưa thanh toán tính từ ngày 28/9/2024 theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

Bị đơn bà Trương Thị L: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà L nhưng bà L không đến Tòa án làm việc và không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn chưa thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định của điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự (viết tắt là BLTTDS).

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ Việt Nam. Buộc bà L phải thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 27/9/2024 là 165.106.386 đồng, trong đó: Nợ gốc là 113.254.178 đồng, nợ lãi là 40.101.064 đồng, nợ lãi quá hạn 11.751.144 đồng và phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh đối với số nợ gốc chưa thanh toán tính từ ngày 28/9/2024 theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Ngoài ra, đương sự chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết:

Ngân hàng TMCP Đ Việt Nam khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Trương Thị L phải trả tiền nợ gốc, nợ lãi phát sinh từ các Hợp đồng tín dụng đã ký kết ngày 11/7/2017 và ngày 28/9/2019, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của BLTTDS. Bị đơn có nơi cư trú tại khu phố 6, phường Văn Hải, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

[1.2] Về sự vắng mặt của bị đơn: Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn nhưng bị đơn không đến tham gia tố tụng mặc dù đã được tống đạt, triệu tập hợp lệ. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của BLTTDS, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bà Trương Thị L phải trả số tiền gốc và lãi, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Các Hợp đồng tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng và bà L trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, nội dung và hình thức của Hợp đồng đúng quy định của pháp luật nên xác định là Hợp đồng hợp pháp. Sau khi ký hợp đồng bà L đã nhận đủ số tiền 235.000.000 đồng. Theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng, bà L có nghĩa vụ trả tiền gốc và lãi hàng tháng cho Ngân hàng trên cơ sở Ngân hàng tự động trích tài khoản cá nhân của bà L để thu nợ hàng tháng theo số tài khoản bà L mở tại Ngân hàng nhưng trong quá trình vay bà L chỉ trả được số tiền 183.455.348 đồng, trong đó: Số tiền gốc đã trả: 121.745.822 đồng, số tiền lãi đã trả: 61.709.526 đồng, sau đó bà L không tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng. Do đó, có cơ sở khẳng định bà L không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng, đã vi phạm Hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết, bà L là người có lỗi nên phải chịu mọi hậu quả phát sinh từ hợp đồng và theo quy định của pháp luật.

[2.2] Lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng tại thời điểm xác lập là phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.3] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà L có nội dung thể hiện Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà L phải trả số tiền vay còn nợ bao gồm nợ gốc, nợ lãi phát sinh từ hợp đồng tín dụng nhưng bà L không có văn bản trình bày ý kiến và cũng không phản đối những tình tiết, sự kiện cũng như những tài liệu, chứng cứ do Ngân hàng xuất trình nên có cơ sở khẳng định bà L đã từ bỏ quyền của mình được pháp luật quy định.

[2.4] Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà L phải trả cho Ngân hàng số tiền còn nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm (27/9/2024) tổng cộng là 165.106.386 đồng, trong đó nợ gốc là 113.254.178 đồng, nợ lãi là 40.101.064 đồng, nợ lãi quá hạn 11.751.144 đồng là phù hợp với các Hợp đồng tín dụng đã ký kết; đồng thời phù hợp với quy định tại các Điều 463, 466, 468 và Điều 470 của Bộ luật Dân sự nên có cơ sở chấp nhận.

[2.5] Đối với yêu cầu của Ngân hàng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà L còn phải tiếp tục chịu lãi suất của số tiền nợ gốc phát sinh từ ngày 28/9/2024 theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong các hợp đồng cho đến khi thanh toán xong hợp đồng tín dụng. Xét thấy yêu cầu này của Ngân hàng phù hợp với các nội dung mà các bên đã thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng nên chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng.

[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên được hoàn trả toàn bộ tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Điều 463, Điều 466, Điều 468 và Điều 470 của Bộ luật Dân sự;
  • Điều 91, Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng;
  • Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thưởng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phi và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ Việt Nam.

  1. Buộc bà Trương Thị L phải trả cho Ngân hàng TMCP Đ Việt Nam số tiền tổng cộng là 165.106.386 đồng (Bằng chữ: Một trăm sáu mươi lăm triệu một trăm lẻ sáu nghìn ba trăm tám mươi sáu đồng), trong đó: Nợ gốc là 113.254.178 đồng, nợ lãi là 51.852.208 đồng.
  2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 28/9/2024), bà L còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng (Hợp đồng tín dụng - Áp dụng đối với khoản vay theo món của khách hàng bán lẻ) số hợp đồng: K632/01/2017/HĐTD và Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi - Áp dụng đối với Khách hàng cá nhân vay thấu chi số hợp đồng 3086581/HĐ) cho đến khi bà L thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong các hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng TMCP Đ Việt Nam cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ Việt Nam cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
  3. Về án phí:

    Bà Trương Thị L phải chịu 8.255.319 đồng (tám triệu hai trăm năm mươi lăm nghìn ba trăm mười chín đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Đ Việt Nam số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.128.000 đồng (bốn triệu một trăm hai mươi tám nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002697 ngày 16/5/2024 của Chi cục thi hành dân sự thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 27/9/2024). Bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND Tp. Phan Rang – Tháp Chàm;
  • - Chi cục THADS Tp. PR-TC;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu (HS, AV).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Diệu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 111/2024/DS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 111/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Đ Việt Nam kiện bà Trương Thị L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger