|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG Bản án số: 111/2022/DS-PT Ngày 01-8-2022 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Lâm;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Vĩnh Khương; Ông Hồ Văn Phụng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Nghi, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Liên, Kiểm sát viên.
Trong các ngày 27 tháng 7 và 01 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 80/2022/TLPT-DS ngày 09 tháng 6 năm 2022, về tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 31/2022/DS-ST ngày 27 tháng 4 năm 2022 của Toà án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 85/2022/QĐ-PT ngày 21 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S;
Địa chỉ trụ sở chính: Số 266-268, đường N, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Hoàng P; Chức vụ: Trưởng phòng kiểm soát rủi ro Ngân hàng Thương mại cổ phần S - Chi nhánh tỉnh Sóc Trăng; địa chỉ làm việc: Số 30, đường T, Phường 2, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Theo Giấy ủy quyền số 599/2022/GUQ-CNST ngày 12-7-2022). (có mặt)
- Bị đơn:
- Ông Trần Văn D; (vắng mặt)
- Bà Lê Thị C; (có mặt)
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lý Văn S; (có mặt)
- Bà Mã Thị M; (có mặt)
- Ông Lý Sơn T; (có mặt)
- Bà Trần Thị Đ; (có mặt)
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.
- Người kháng cáo: Bà Mã Thị M, ông Lý Văn S, ông Lý Sơn T và bà Trần Thị Đ - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 28-5-2021 của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Vào ngày 21-8-2018, Ngân hàng Thương mại cổ phần S - Phòng giao dịch N, tỉnh Sóc Trăng (gọi tắt là Ngân hàng) với ông Trần Văn D và bà Lê Thị C có ký kết với nhau Hợp đồng tín dụng số LD1822500664, sau đó có thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng vào ngày 12-9-2018 và ngày 31-8-2020. Theo Hợp đồng, Ngân hàng cho ông D và bà C vay số tiền 480.000.000 đồng; mục đích vay để bổ sung vốn sản xuất nông nghiệp; lãi suất cho vay được xác định cho từng lần giải ngân theo thỏa thuận của các bên, phù hợp với quy định của pháp luật và được ghi cụ thể trên từng giấy nhận nợ; thời hạn vay 12 tháng.
Để đảm bảo khoản vay, ông D và bà C có thế chấp cho Ngân hàng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN 495068, diện tích 15.865,4 m2, loại đất chuyên trồng lúa nước, tại thửa số 4, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Sóc Trăng cấp vào ngày 11-9-2018 cho ông Trần Văn D và bà Lê Thị C, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số LD1822500664.3 ngày 13-9-2018.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, đến ngày 28-5-2021, ông D và bà C đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo như thỏa thuận. Tính đến ngày 27-4-2022, tổng số tiền nợ là 573.821.956 đồng, trong đó vốn gốc là 470.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 50.105.417 đồng và tiền lãi quá hạn là 53.716.539 đồng.
Nay Ngân hàng yêu cầu ông D và bà C trả số tiền còn nợ tính đến ngày 27-4-2022 tổng cộng là 573.821.956 đồng, trong đó nợ gốc là 470.000.000 đồng, lãi trong hạn là 50.105.417 đồng, lãi quá hạn là 53.716.539 đồng và yêu cầu tính lãi phát sinh theo hợp đồng thỏa thuận từ ngày 28-4-2022 cho đến khi ông D, bà C trả hết nợ vay. Trường hợp ông D, bà C không trả nợ cho Ngân hàng thì yêu cầu xử lý, kê biên, phát mãi tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 6 Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 299, khoản 1 và khoản 5 Điều 466, Điều 503 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 167 Luật đất đai năm 2013; khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lý Văn S, bà Mã Thị M, ông Lý Sơn T, bà Trần Thị Đ.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 31/2022/DS-ST ngày 27 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần S. Buộc ông Trần Văn D và bà Lê Thị C có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S, tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 27 tháng 4 năm 2022), bao gồm các khoản sau đây:
- - Nợ gốc: 470.000.000 đồng (Bốn trăm bảy mươi triệu đồng);
- - Tiền lãi trong hạn: 50.105.417 đồng (Năm mươi triệu một trăm lẻ năm nghìn bốn trăm mười bảy đồng);
- - Tiền lãi quá hạn 53.716.539 đồng (Năm mươi ba triệu bảy trăm mười sáu nghìn năm trăm ba mươi chín đồng).
- Tổng cộng là 573.821.956 đồng (Năm trăm bảy mươi ba triệu tám trăm hai mươi mốt nghìn chín trăm năm mươi sáu đồng).
|
Nơi nhận: - TAND TX. Ngã Năm; - VKSND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND TX. Ngã Năm; - Chi cục THADS TX. N; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoàng Lâm |
Bản án số 111/2022/DS-PT ngày 01/08/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 111/2022/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 01/08/2022
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Thương mại cổ phần S yêu cầu ông Trần Văn D và bà Lê Thị C trả tiền vay còn thiếu tính đến ngày 27-4-2022 bao gồm gốc và lãi tổng cộng là 573.821.956 đồng và tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong nợ vay. Trường hợp ông D và bà C không có khả năng trả nợ thì yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
