Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN PHÚ NHUẬN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 1109/2024/DS-ST

Ngày: 18 - 9 - 2024

Về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN, TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Lê Ninh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phan Phi Trung
  2. Bà Ngô Hải Yến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Kiều Trang – Thư ký Tòa án của Tòa án

nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí

Minh tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích P - Kiểm sát viên.

Ngày 18/9/2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 346/2024/TLST-DS ngày 02/4/2024 về “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 242/2024/QĐXXST-DS ngày 26/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 183/2024/QĐST-DS ngày 20/8/2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S

Địa chỉ trụ sở: 2 N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Q và Khai thác tài sản Ngân hàng S (Công ty S1)

Địa chỉ trụ sở: B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật của Công ty S1: Ông Lê Ngọc T

Người đại diện theo ủy quyền của Công ty S1: Ông Thân Lê N, sinh năm 1978

(Theo các Giấy ủy quyền 2535A/2022/GUQ-PL ngày 12/10/2022 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S; Giấy ủy quyền số 775/2023/GUQ-TGĐ ngày 13/9/2023 và Giấy ủy quyền số 243/2024/UQ-TGĐ ngày 04/01/2024 của Công ty TNHH MTV Q và Khai thác tài sản Ngân hàng S).

- Bị đơn: Bà Đinh Thị Thu H, sinh năm 1977

Địa chỉ: A Chung cư T, Phường G, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Ông N có mặt, bà H vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 18/3/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S là ông Thân Lê N trình bày như sau:

Ngày 13/01/2014, bà Đinh Thị Thu H ký kết Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (sau đây viết tắt là Ngân hàng) và được Ngân hàng cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 89.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà Đinh Thị Thu H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 1.243.256.186 đồng và thanh toán cho Ngân hàng 1.325.747.985 đồng (thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Tuy nhiên, qua nhiều lần nhắc nhở, bà Đinh Thị Thu H thanh toán không đầy đủ và không đúng hạn cho Ngân hàng.

Do bà Đinh Thị Thu H vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận trong hợp đồng nên ngày 06/11/2021, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ tín dụng và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu là 61.711.700 đồng sang nợ quá hạn theo quy định tại Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng và áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% lãi suất trong hạn (150% x lãi suất trong hạn 2,4%).

Sau khi bị quá hạn, bà H có thanh toán thêm 16 lần với tổng số tiền là 47.500.000 đồng nên đến ngày 18/3/2024, Ngân hàng nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết như sau: Buộc bà Đinh Thị Thu H thanh toán cho nguyên đơn tổng số nợ tạm tính đến hết ngày 02/01/2024 gồm nợ gốc là 26.211.700 đồng và lãi quá hạn là 50.763.952 đồng, tổng cộng là 76.975.652 đồng; lãi phát sinh từ ngày 03/01/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng.

Tại phiên tòa,

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Thân Lê N trình bày: Sau khi bị quá hạn, bà Đinh Thị Thu H có thanh toán thêm 16 lần với tổng số tiền là 47.500.000 đồng nên nay Ngân hàng yêu cầu bà Đinh Thị Thu H phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số nợ tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm 18/9/2024 là 71.002.092 đồng, trong đó: nợ gốc là 14.211.700 đồng, lãi quá hạn 56.790.392 đồng, trả ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Đồng thời, bà Đinh Thị Thu H còn phải trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 19/9/2024 đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 13/01/2014 đã ký kết giữa các bên.

Bị đơn bà Đinh Thị Thu H vắng mặt nên không có lời trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được thực hiện đầy đủ theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện yêu cầu bà Đinh Thị Thu H trả nợ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 13/01/2014 đã ký kết giữa các bên. Đây là vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng và bị đơn có nơi cư trú tại quận P, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh theo các quy định tại Khoản 3 Điều 26; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Bà Đinh Thị Thu H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập đến Tòa án làm việc, Thông báo tham dự các phiên họp kiểm tra việc giao nộp chứng cứ, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập tham dự phiên tòa. Mặc dù đã được Tòa án

triệu tập đến để ghi nhận ý kiến, tiến hành thủ tục giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như việc tham gia phiên tòa xét xử giải quyết vụ án với nguyên đơn nhưng bị đơn bà Đinh Thị Thu H vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ yêu cầu khởi kiện, lời trình bày cũng như chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để làm cơ sở xem xét giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 91, Khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ quy định tại Điều 196, Điều 207, Điều 208, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn bà Đinh Thị Thu H.

[3] Về yêu cầu của đương sự:

[3.1] Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 13/01/2014 đã ký kết giữa bà Đinh Thị Thu H và Ngân hàng Thương mại Cổ phần S, bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S, các chứng từ theo dõi nợ do Ngân hàng nộp cho Tòa án và lời trình bày của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thì đã có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 13/01/2014, bà Đinh Thị Thu H ký kết Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và được Ngân hàng cấp thẻ tín dụng với hạn mức 89.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà Đinh Thị Thu H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 1.243.256.186 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, bà H đã thanh toán cho Ngân hàng 1.325.747.985 đồng (thứ tự thanh toán áp dụng theo Điều 20 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S). Do bà Đinh Thị Thu H vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận trong hợp đồng nên ngày 06/11/2021, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ tín dụng và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn, áp dụng lãi suất nợ quá hạn 3,6%/tháng (150% lãi suất trong hạn 2,4%/tháng). Sau khi bị quá hạn, bà H có thanh toán thêm 47.500.000 đồng. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm 18/9/2024, bà Đinh Thị Thu H còn nợ Ngân hàng các khoản sau: Nợ gốc là 14.211.700 đồng, lãi quá hạn là 56.790.392 đồng, tổng cộng là 71.002.092 đồng.

[3.2] Xét thấy, Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 13/01/2014 đã ký kết giữa bà Đinh Thị Thu H và Ngân hàng Thương mại Cổ phần S là hợp đồng hợp pháp, có hiệu lực thi hành giữa các bên. Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, bà Đinh Thị Thu H đã không trả nợ gốc và tiền lãi đúng hạn, vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ tín dụng và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn là đúng theo thỏa

thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 13/01/2014 và Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (có hiệu lực từ ngày 20/9/2013).

[3.3] Mặt khác, trong vụ án này nguyên đơn xác định chỉ yêu cầu bà Đinh Thị Thu H có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với khoản nợ thẻ tín dụng nêu trên (mục đích vay tiêu dùng cá nhân), không yêu cầu ai cùng với bị đơn thực hiện nghĩa vụ dân sự.

[3.4] Từ nhận định nêu trên, xét yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S được chấp thuận toàn bộ yêu cầu nên không phải chịu án phí sơ thẩm. Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền 1.924.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0032320 ngày 01/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn là bà Đinh Thị Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.550.105 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 147; Điểm b Khoản 2 Điều 227; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Căn cứ Khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

Bà Đinh Thị Thu H có nghĩa vụ phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật tổng số tiền là 71.002.092 đồng (Bảy mươi mốt triệu không trăm linh hai nghìn không trăm chín mươi hai đồng), trong đó bao gồm các khoản sau:

Số tiền gốc: 14.211.700 đồng (Mười bốn triệu hai trăm mười một nghìn bảy trăm đồng)

Tiền lãi quá hạn: 56.790.392 đồng (Năm mươi sáu triệu bảy trăm chín mươi nghìn ba trăm chín mươi hai đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bà Đinh Thị Thu H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 13/01/2014 đã ký kết giữa các bên.

2. Về án phí:

2.1. Bà Đinh Thị Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.550.105 đồng (Ba triệu năm trăm năm mươi nghìn một trăm linh năm đồng).

2.2. Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 1.924.000 đồng (Một triệu chín trăm hai mươi bốn nghìn đồng) cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0032320 ngày 01/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - VKSND quận Phú Nhuận;
  • - CCTHADS quận Phú Nhuận;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Lê Ninh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1109/2024/DS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 1109/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger