TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 1108/2023/KDTM-PT Ngày 29 tháng 11 năm 2023 V/v: “Tranh chấp hợp đồng xây dựng và bồi thường thiệt hại”. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Thảo.
Các Thẩm phán: Bà Mai Thị Thanh Tú
Bà Phùng Thị Như Mai
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Tôn Mạnh Hùng – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 17, 29/11/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý 103/2023/TLPT-KDTM ngày 04 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng xây dựng và bồi thường thiệt hại”.
Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 90/2023/KDTM-ST ngày 26/6/2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4774/2023/QĐ-PT ngày 16/10/2023, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 14507/2023/QĐ-PT ngày 06/11/2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty TNHH MTV C2
Địa chỉ trụ sở: 5 P, phường Q, Thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Đình Đ (Có mặt)
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1982; Địa chỉ liên lạc: 4 D, Phường F, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Văn bản ủy quyền ngày 06/11/2023) – (Có mặt)
2. Bị đơn: Công ty Cổ phần Q
Địa chỉ trụ sở chính: F T, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền:
Ông Nguyễn Quốc T (Vắng mặt)
Ông Nguyễn Thanh T1 (Có mặt)
Bà Châu Thị Thảo O (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ liên lạc: 117 N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
* Người kháng cáo: Công ty Cổ phần Q - là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tóm tắt nội dung vụ án và quyết định của Bản án sơ thẩm như sau:
Theo đơn khởi kiện ngày 10/12/2021 quá trình giải quyết và tại phiên tòa đại diện nguyên đơn trình bày:
Công ty Cổ phần Q (sau đây gọi tắt là Công ty Q) là bên giao thầu và Công ty TNHH MTV C2 (sau đây gọi tắt là Công ty C2) là bên nhận thầu để thi công xây dựng một số hạng mục liên quan đến các Dự án của Công ty Q, cụ thể:
1. Đối với dự án CT P phố W:
Ngày 27/03/2017, Công ty C2 và Công ty Q ký kết Hợp đồng thi công xây dựng công trình số 70/2017-HĐTC (“Hợp đồng 70”) và Phụ lục hợp đồng số 01 ngày 27/03/2017. Ngay sau khi ký kết Hợp đồng 70 và Phụ lục 01 nêu trên, Công ty C2 đã thuê mặt bằng phục vụ thi công, đưa máy móc thiết bị, nhân công đến công trình, thuê nhà cho công nhân, ký kết các hợp đồng mua xi măng, cát, đá.... Sau đó, Công ty C2 nhận được thông báo của Công ty Q về việc đơn phương chấm dứt Hợp đồng số 70. Do đó, Công Ty C2 yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty Q bồi thường thiệt hại số tiền 12% giá trị Hợp đồng 70, tương đương 563.360.000đ (Năm trăm sáu mươi ba triệu ba trăm sáu mươi ngàn đồng).
2. Đối với dự án I-Home P, quận G:
Ngày 16/9/2015, Công ty Q và Công ty C2 ký kết Hợp đồng thi công xây dựng số 132/2015-HĐTC (Hợp đồng 132), với nội dung: Công ty C2 nhận thầu thi công gói thầu xây tường bao, tô mặt ngoài tầng 5 đến mái Block A1 Dự án I-Home Phạm Văn C, tổng giá trị hợp đồng là 1.656.377.349 đồng đã bao gồm VAT. Sau đó, Công ty Q và Công ty C2 tiếp tục ký kết 17 Phụ lục Hợp đồng (từ Phụ lục 01 đến Phụ lục 17) của Hợp đồng 132 nêu trên để bổ sung một số hạng mục thi công cho Dự án I-Home Phạm Văn C. Công ty C2 đã tổ chức thi công đúng tiến độ; Công trình đã được đưa vào sử dụng từ năm 2017. Tổng giá trị Công ty C2 đã thi công theo Hợp đồng 132 và các Phụ lục Hợp đồng kèm theo là 8.485.994.000 đồng. Công ty Q đã thanh toán cho Công ty C2 số tiền là 6.866.946.576 đồng, số tiền còn lại chưa thanh toán là 1.619.047.424 đồng. Mặc dù Công ty C2 đã nhiều lần liên hệ yêu cầu Công ty Q thanh toán số tiền còn lại nhưng Công ty Q không thanh toán. Do đó, Công Ty C2 yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty Q thanh toán số tiền còn nợ của hợp đồng số 132/2015-HĐTC ngày 16/9/2015 và các phụ lục kèm theo hợp đồng thi công dự án I-Home Phạm Văn C là 1.619.047.424 đồng và tiền lãi do chậm thanh toán tạm tính là 1.431.213.000 đồng, tổng cộng là 3.050.261.424 đồng.
2
3. Đối với dự án L Luxury Apartments N, Quận C:
Ngày 19/5/2017, Công ty Q và Công ty C2 ký kết Hợp đồng thi công xây dựng số 120/HĐTC (Hợp đồng 120), với nội dung: Công ty C2 nhận thầu thi công hạng mục cán nền, lát gạch sân, lợp mái nhà vệ sinh công cộng thuộc Dự án Léman L Apartments N, tổng giá trị hợp đồng trọn gói là 134.530.000 đồng đã bao gồm VAT.
Ngày 01/7/2016, Công ty Q và Công ty C2 ký kết Hợp đồng thi công xây dựng số 158/HĐTC (Hợp đồng 158), với nội dung: Công ty C2 nhận thầu thi công hạng mục fill lỗ, hoàn thiện phòng rác, láng hồ dầu cầu thang bộ công trình thuộc Dự án Léman L Apartments N. Giá trị hợp đồng là 366.609.804 đồng đã bao gồm VAT.
Ngày 05/7/2017, Công ty Q và Công ty C2 ký kết Hợp đồng thi công xây dựng số 161/HĐTC (Hợp đồng 161) với nội dung Hợp đồng 161 thì Công ty C2 nhận thầu thi công hạng mục D và chà ron trong căn hộ thuộc Dự án Léman L Apartments N; giá trị hợp đồng được tính như sau: Đơn giá Defect trọn gói, khoán trọn theo từng căn: 2.000.000 đồng/căn hộ, bao gồm thuế VAT. Đơn giá nhân công chà ron: 7.000 đồng/m², bao gồm thuế VAT. Giá trị chà ron sẽ được nghiệm thu theo thực tế, giá hợp đồng: 60 căn x 2.000.000 đồng = 120.000.000 đồng (bao gồm VAT).
Ngày 17/7/2017, Công ty Q và Công ty C2 ký kết Phụ lục Hợp đồng số 01/2017-PLHĐ của Hợp đồng số 158/HĐTC ngày 01/7/2016 về việc bổ sung thi công xây tô căn hộ PD3 và PD4 thuộc Dự án Léman L Apartments N. Giá trị hợp đồng là 181.441.810 đồng đã bao gồm VAT.
Trong tháng 04 năm 2018, Công ty Q và Công ty C2 ký kết Phụ lục Hợp đồng số 02/2018-PLHĐ của Hợp đồng số 158/HĐTC ngày 01/7/2016 về việc bổ sung thi công chống thấm phòng rác, fill lỗ ống thoát công trình thuộc Dự án Léman L Apartments N. Giá trị hợp đồng là 21.744.360 đồng (Hai mươi mốt triệu bảy trăm bốn mươi bốn ngàn ba trăm sáu mươi đồng) đã bao gồm VAT.
Quá trình thực hiện các Hợp đồng, Phụ lục Hợp đồng nêu trên, Công ty C2 đã thực hiện thi công đúng tiến độ, đúng chất lượng, hoàn thành các nghĩa vụ đã thỏa thuận. Tổng giá trị thi công Công ty C2 đã thực hiện là 771.347.849 đồng (Bảy trăm bảy mươi mốt triệu ba trăm bốn mươi bảy ngàn tám trăm bốn mươi chín đồng) chưa bao gồm VAT. Công ty Q đã thanh toán cho Công ty C2 334.189.000 đồng, còn nợ tính tròn số là 437.158.849 đồng (chưa bao gồm VAT).
Công ty C2 yêu cầu Công ty Q thanh toán số tiền còn nợ là 437.158.849 đồng (chưa bao gồm VAT); T2 lãi do chậm thanh toán là: 343.121.000 đồng.
Tổng cộng số tiền nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán của các hợp đồng và phụ lục hợp đồng của 03 dự án trên là 4.393.900.000 đồng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn xác định lại yêu cầu như sau:
3
+ Nguyên đơn xin rút lại yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu bồi thường ngoài hợp đồng 563.360.000 đồng của Hợp đồng thi công xây dựng công trình số 70/2017-HĐTC và Phụ lục hợp đồng số 01 ngày 27/03/2017 dự án CT P phố W.
+ Đối với Hợp đồng thi công xây dựng số 132/2015-HĐTC ngày 16/9/2015 và các phụ lục kèm theo hợp đồng thi công dự án I P, quận G, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu buộc bị đơn thanh toán tiền gốc là 1.619.047.424 đồng và tiền lãi chậm thanh toán tính từ ngày 25/12/2018 đến ngày 20/6/2023 là 1638 ngày x 1.619.048.000 đồng x 15%/năm = 1.089.863.270 đồng, tổng cộng gốc và lãi là 2.708.911.270 đồng.
+ Đối với hợp đồng số 120/2015-HĐTC ngày 19/5/2017, hợp đồng số 161/2017-HĐTC ngày 05/7/2017, hợp đồng số 158/2016-HĐTC ngày 01/7/2016 và các phụ lục kèm theo hợp đồng thi công dự án Léman Luxury Apartments N, yêu cầu Công ty Q thanh toán cho Công ty C2 số tiền còn nợ là 437.158.849 đồng (chưa bao gồm VAT) và lãi chậm thanh toán tính lãi từ ngày 22/10/2018 đến ngày 20/6/2023 là 15%/năm x 437.158.849 đồng x 1702 ngày = 305.771.655 đồng, tổng cộng gốc và lãi là 742.930.504 đồng.
Tổng cộng số tiền nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán cho nguyên đơn tính đến ngày là 20/6/2023 là 3.451.841.774 đồng (bao gồm tổng tiền gốc là 2.056.206.849 đồng, tiền lãi là 1.395.634.925 đồng) yêu cầu thanh toán 01 lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật và phải chịu lãi suất phát sinh từ ngày 21/6/2023 cho đến khi thanh toán hết nợ.
FORMTEXT * Trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của bị đơn - Công ty Q trình bày:
Đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn có ý kiến từng nội dung cụ thể như sau:
* Đối với hợp đồng số 70
Yêu cầu Tòa án áp dụng Điều 429 Bộ luật dân sự năm 2015 vì đã hết thời hạn khởi kiện.
* Đối với hợp đồng số 132/2015-HĐTC ngày 16/9/2015 và các phụ lục kèm theo hợp đồng thi công dự án I-Home Phạm Văn C
Do Công ty C2 chưa chốt được số liệu quyết toán nên hai bên chưa hình thành công nợ. Đề nghị công ty C2 thống nhất số liệu gửi qua cho Công ty Q theo số liệu ngày 19/01/2021.
Công ty Q đã có rất nhiều công văn gửi công ty C2 yêu cầu chốt số liệu để thanh toán nhưng công ty C2 liên tục thay đổi số liệu. Ngày 19/01/2021, Công ty C2 cũng lập bảng tổng hợp giá trị quyết toán số liệu gửi cho Công ty Q, Công ty Q tạm thời đồng ý số liệu các hạng mục từ 01 đến 20, còn hạng 21 đến 23 là những hạng mục phát sinh ngoài hợp đồng đã thanh toán nên yêu cầu không đưa
4
vào hợp đồng. Sau khi Công ty Q đồng ý thì Công ty C2 lại thay đổi số liệu nên Công ty Q chưa có cơ sở để quyết toán cho Công ty C2.
* Đối với hợp đồng số 120/2015-HĐTC ngày 19/5/2017, hợp đồng số 161/2017-HĐTC ngày 05/7/2017, hợp đồng số 158/2016-HĐTC ngày 01/7/2016 và các phụ lục kèm theo hợp đồng thi công dự án Léman Luxury Apartments N
Công ty Q yêu cầu công ty C2 cung cấp hồ sơ thanh toán, quyết toán được ban Q1 ký theo điều khoản thanh quyết toán của hợp đồng. Công ty Q đã gặp trực tiếp ông Đ là giám đốc công ty C2 nhiều lần yêu cầu gửi hồ sơ quyết toán nhưng công ty Q vẫn chưa nhận được đầy đủ hồ sơ thanh toán.
* Bản án kinh doanh thương mại số 90/2023/KDTM-ST ngày 26/6/2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Áp dụng Khoản 1 Điều 30, Khoản 1 Điều 35, Các Điều 217, 218, 227, 228, 244, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 113, 122, 123, 144, 146 của Luật Xây dựng năm 2014; Điều 306 của Luật Thương mại năm 2005; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy đinh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 11 Nghị quyết 01/2023/NQ-HĐTP ngày 11/01/2023 về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Luật Thi hành án dân sự.
Hội đồng xét xử Quyết định:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH MTV C2:
Buộc Công ty Cổ phần Q phải thanh toán cho Công ty TNHH MTV C2 nợ gốc và lãi chưa thanh toán (của Hợp đồng thi công xây dựng số 132/2015-HĐTC ngày 16/9/2015 và 17 phụ lục kèm theo hợp đồng của dự án I-Home Phạm Văn C và các hợp đồng số 120/2015-HĐTC ngày 19/5/2017, hợp đồng số 161/2017-HĐTC ngày 05/7/2017, hợp đồng số 158/2016-HĐTC ngày 01/7/2016 và 02 phụ lục kèm theo hợp đồng số 158/2016-HĐTC ngày 01/7/2016 của dự án Léman L Apartments Nguyễn Đình C1) tính đến ngày 20/6/2023 là 3.451.841.774 đồng, thanh toán 01 lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 21/6/2023 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quá hạn của Ngân hàng TMCP C3.
2. Đình chỉ đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của Hợp đồng thi công xây dựng công trình số 70/2017-HĐTC và Phụ lục hợp đồng số 01 ngày 27/03/2017 dự án CT P phố W.
3. Về án phí sơ thẩm và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:
5
- Hoàn lại Công ty TNHH MTV C2 tiền tạm ứng án phí đã nộp là 56.196.950 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0030799 ngày 31/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình.
- Công ty Cổ phần Q phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 101.036.835 đồng.
- Công ty Cổ phần Q có trách nhiệm thanh toán lại chi phí xem xét thẩm định cho Công ty TNHH MTV C2 số tiền là 12.000.000đ (Mười hai triệu đồng).
Ngoài ra, bản án còn quyết định về nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 25/7/2023, Công ty Q kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Đại diện bị đơn Công ty Q vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày: Không đồng ý với kết quả xét xử của Bản án sơ thẩm đã buộc Công ty Q thanh toán số tiền cho nguyên đơn là không có cơ sở, giữa hai bên chưa nghiệm thu khối lượng, không thực hiện nhiệm thu, chưa đối chiếu quyết toán, công nợ chưa hình thành nên chưa phát sinh lãi chậm trả. Mặt khác Công ty Q không được tòa sơ thẩm triệu tập khi xét xử ngày 20 và 26/6/2023, cấp sơ thẩm đã vi phạm thủ tục tố tụng nên đề nghị cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm.
Nguyên đơn trình bày: Không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bị đơn đề nghị y án sơ thẩm.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Qua kiểm sát vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định về thẩm quyền giải quyết vụ án, Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử và gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng thời hạn, cấp và tống đạt các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa tiến hành đúng trình tự pháp luật Tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý cũng như tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, việc ủy quyền đúng theo quy định.
Về nội dung: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty Q. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
6
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng, quan điểm của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1] Căn cứ vào đơn khởi kiện ngày 10/12/2021 của nguyên đơn cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thì việc khởi kiện của nguyên đơn là tranh chấp hợp đồng xây dựng quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng. Do nguyên đơn yêu cầu bị đơn bồi thường thiệt hại theo Hợp đồng thi công xây dựng công trình số 70/2017-HĐTC ngày 27/03/2017 mà hai bên đã ký kết, cấp sơ thẩm nhận định là tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định tại khoản 6 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự là chưa chính xác. Bởi lẽ, yêu cầu bồi thường thiệt hại phát sinh từ hợp đồng xây dựng mà hai bên đã ký kết nên nếu nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu thì vẫn là tranh chấp kinh doanh thương mại cần áp dụng khoản 1 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xem xét, không xác định khoản 6 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Căn cứ Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần M đăng ký lần đầu ngày 26/5/2004, đăng ký thay đổi lần thứ 12 ngày 23/6/2020 tại thời điểm nguyên đơn khởi kiện, bị đơn có trụ sở tại Tòa nhà F T, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự để thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật.
[1.3] Bị đơn kháng cáo Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm nên thẩm quyền giải quyết thuộc thẩm quyền của Tòa Kinh tế Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh căn cứ theo điểm b khoản 3 Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đơn kháng cáo của Công ty Q làm trong hạn luật định, Công ty Q đã làm thủ tục kháng cáo đúng theo quy định của pháp luật.
[1.4] Phạm vi xét xử phúc thẩm: Do bị đơn kháng cáo toàn bộ bản án của Tòa cấp sơ thẩm nên Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét lại toàn bộ nội dung đã giải quyết tại cấp sơ thẩm.
[1.5] Xét kháng cáo của bị đơn là Công ty Q về việc cấp sơ thẩm không tống đạt cho Công ty Q để tham dự phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử xét thấy:
Tại phiên tòa đại diện bị đơn xác định cả 03 người được Công ty Q ủy quyền đều có địa chỉ làm việc tại A N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, đây đồng thời cũng là văn phòng làm việc của Công ty Q. Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2023/QĐXXST-KDTM ngày 04/5/2023 xét xử vào lúc 08 giờ ngày 23/5/2023 đã được tống đạt qua người thứ 3 là bà N và Công ty Q đã nhận được có làm đơn xin hoãn phiên tòa. Ngày 23/5/2023, Tòa án nhân dân quận Tân Bình ban hành Quyết định hoãn phiên tòa số 138/2023/QĐST-KDTM ấn định thời gian xét xử vào lúc 8 giờ ngày 20/6/2023, quyết định này đã được Tòa án nhân dân quận Tân Bình niêm yết ngày 02/6/2023 tại địa chỉ A N,
7
phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh và các nơi theo quy định của pháp luật. Như vậy cấp sơ thẩm đã thực hiện thủ tục niêm yết đúng quy định. Ngày 20/6/2023 Tòa xử sau đó nghị án kéo dài và tuyên án vào ngày 26/6/2023 là đúng quy định tại Khoản 4 Điều 264, Điều 267 Bộ luật Tố tụng dân sựdo đó đại diện bị đơn cho rằng cấp sơ thẩm vi phạm thủ tục tố tụng về tống đạt là không có cơ sở chấp nhận.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của bị đơn - Công ty Q về nội dung cấp sơ thẩm đã buộc Công ty Q thanh toán số tiền cho nguyên đơn là không có cơ sở, giữa hai bên chưa nghiệm thu khối lượng, không thực hiện nhiệm thu, chưa đối chiếu quyết toán, công nợ chưa hình thành nên chưa phát sinh lãi chậm trả.
Quá trình giải quyết sơ thẩm, hai bên đương sự xác nhận có ký kết với nhau các hợp đồng thi công của dự án I-Home P, quận G; dự án Léman L Apartments N, Quận C; dự án CT Plaza phố W nên Hội đồng xét xử xét từng dự án.
[2.1] Dự án I P, quận G:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự, xét Hợp đồng thi công xây dựng số 132/2015-HĐTC và 17 Phụ lục, Hội đồng xét xử phúc thẩm có cơ sở xác định như sau:
[2.1.1] Nguyên đơn (Công ty C2) và bị đơn (Công ty Q) xác nhận có ký với nhau Hợp đồng thi công xây dựng số 132/2015-HĐTC (Hợp đồng 132), với nội dung: Công ty C2 nhận thầu thi công gói thầu xây tường bao, tô mặt ngoài tầng 5 đến mái Block A1 Dự án I-Home Phạm Văn C và 17 Phụ lục Hợp đồng (từ Phụ lục 01 đến Phụ lục 17) của Hợp đồng 132 nêu trên để bổ sung một số hạng mục thi công cho Dự án I-Home Phạm Văn C.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Công ty Q cho rằng bị đơn đã tạm ứng cho nguyên đơn tổng cộng 17 đợt theo khối lượng công việc đã làm nhưng đây không phải là tiền thanh toán mà chỉ tạm ứng để nguyên đơn tiếp tục thực hiện công việc cho đến khi hoàn thành. Nguyên đơn không thực hiện đúng như hợp đồng đã ký, những phần việc chưa đạt bị đơn yêu cầu sửa chữa nhưng nguyên đơn không thực hiện nên bị đơn phải yêu cầu đơn vị thứ ba thực hiện. Công ty C2 chưa thực hiện hồ sơ nghiệm thu cho Công ty Q, không chốt được số liệu quyết toán thì không hình thành công nợ. Hai bên đã thống nhất “Bảng tổng hợp giá trị quyết toán Công ty C2” ngày 19/01/2021 nhưng sau đó Công ty C2 thay đổi nên không thực hiện được.
Đại diện nguyên đơn cho rằng từng hạng mục Công ty C2 đã chốt khối lượng công việc đã làm với Công ty Q, Công ty C2 đã nộp hồ sơ nghiệm thu, công trình I đã bàn giao cho Công ty Q (Biên bản nghiệm thu bàn giao đưa vào sử dụng gói thầu ngày 25/10/2018). Tại phiên tòa đại diện Công ty Q nói chưa nghiệm thu là không đúng, toàn bộ tài liệu nguyên đơn đã nộp từ sơ thẩm. Nguyên đơn đã nộp hồ sơ thanh toán, hồ sơ quyết toán cho Công ty Q nhưng Công ty Q không trả tiền.
8
Tại phiên tòa phúc thẩm Hội đồng xét xử đã yêu cầu đại diện bị đơn chứng minh nguyên đơn không thực hiện đúng như hợp đồng đã ký, không đạt chất lượng, bị đơn đã yêu cầu sửa chữa nhưng nguyên đơn không thực hiện, bị đơn phải yêu cầu đơn vị thứ ba sửa, số tiền hai bên còn phải thanh toán cho nhau, tổng số tiền bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn nhưng bị đơn cho rằng tại phiên tòa này người phụ trách công trình cũng như kế toán không đi theo nên không xác định được công nợ, bị đơn không tranh chấp về chất lượng công trình nên không cung cấp tài liệu bên thứ ba. Cấp sơ thẩm vi phạm thủ tục tố tụng nên cấp phúc thẩm hủy án, phần công nợ sẽ tranh luận ở vụ án khác. Do bị đơn kháng cáo toàn bộ án sơ thẩm nhưng tại cấp phúc thẩm không cung cấp tài liệu chứng cứ gì thêm để chứng minh nên bị đơn phải chịu hậu quả của việc không tuân thủ nghĩa vụ cung cấp chứng cứ theo quy định khoản 5 và Khoản 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự. Cấp phúc thẩm chỉ xem xét các tài liệu có từ giai đoạn sơ thẩm.
Xét “Bảng tổng hợp giá trị quyết toán Công ty C2” ngày 19/01/2021 mà bị đơn cho rằng đã thống nhất giá trị quyết toán với Công ty C2 nhưng sau đó Công ty C2 lại thay đổi số tiền nên không thực hiện. Thực tế nội dung trên bảng tổng hợp giá trị quyết toán này có những Phụ lục hai bên thống nhất về số tiền nhưng vẫn còn một số Phụ lục phía Công ty Q hoặc Công ty C2 phải kiểm tra lại, Giám đốc Công ty Q xác định “tiếp nhận sẽ kiểm tra lại và đề nghị ông Đ gửi đối chiếu tổng giá trị đã thanh toán và các khoản khấu trừ”, phía Công ty C2 chưa đồng ý số tiền ghi trong bảng tổng hợp phần Phụ Lục 07, như vậy bị đơn xác định đã chốt giá trị quyết toán nhưng Khánh L1 thay đổi số liệu là không chính xác.
Xét Biên bản làm việc ngày 22/10/2018 trong đó có nội dung:
“- Căn cứ theo hồ sơ quyết toán của Công ty C2 trình Công ty Q thi công dự án I home gồm sơ và 17 phụ lục hợp đồng,
Căn cứ bản vẽ và thực tế thi công
Trong quá trình kiểm tra, Song K & Khánh L1 nhận thấy có sự sai lệch lớn về khối lượng, chất lượng ... đồng thời các bên nhận thấy toàn bộ các hồ sơ thi công của Khánh L1 chưa cung cấp được hồ sơ nghiệm thu giai đoạn, nghiệm thu hoàn thành hạng mục thi công, nghiệm thu vật liệu, hồ sơ thí nhiệm cũng đều không có ... thực tế thi công còn lam nham, chưa hoàn chỉnh, chưa hoàn tất 100% theo yêu cầu bản vẽ, công tác thi công chỉ nêu ra sự việc mà không có sự xác nhận nào...” nhưng phía Khánh L1 không đồng ý, chỉ đồng ý mục số 5 là thống nhất thời gian kiểm tra lại. Biên bản trên cho thấy Công ty C2 có trình hồ sơ quyết toán cho Công ty Q nhưng Công ty Q không chấp nhận và cho rằng chưa nghiệm thu, chưa hoàn chỉnh, chưa hoàn tất 100% theo yêu cầu bản vẽ. Tuy nhiên, ngày 25/10/2018 hai bên ký Biên bản nghiệm thu bàn giao đưa vào sử dụng gói thầu có nội dung:
“4 Đánh giá bộ phận công trình xây dựng, giai đoạn thi công xây dựng đã thực hiện:
9
a. Tài liệu làm căn cứ nghiệm thu: ...
- Căn cứ Biên bản nghiệm thu nội bộ công việc xây dựng của nhà thầu thi công xây dựng.
- Căn cứ vào phiếu yêu cầu nghiệm thu của doanh nghiệp X.
- Căn cứ vào biên bản nghiệm thu công việc giữa nhà thầu và chủ đầu tư
b. Về chất lượng hạng mục cần nghiệm thu (đối chiếu với thiết kế, tiêu chuẩn xây dựng, chỉ dẫn kỹ thuật): Đạt chất lượng, đúng theo thiết kế, đúng theo tiêu chuẩn xây dựng.
c. Về chất lượng công việc xây dựng cần nghiệm thu: Đạt chất lượng đưa vào sử dụng ....
5. Kết luận: Đảm bảo yêu cầu kỹ thuật và bản vẽ thiết kế được duyệt, đồng ý nghiệm thu đưa vào sử dụng”.
Hội đồng xét xử xét thấy, công trình xây dựng để được phê duyệt và đặc biệt khi đưa vào sử dụng đòi hỏi phải kiểm tra nghiêm ngặt từng chi tiết nhỏ nhất đảm bảo về chất lượng, khối lượng, đúng với thiết kế..., công trình đã được nghiệm thu đưa vào sử dụng từ ngày 25/10/2018, do đó bị đơn cho rằng chưa thống nhất được khối lượng, chưa nghiệm thu nên chưa chốt được công nợ để thanh toán là cố tình không thực hiện nghĩa vụ của Bên A (Công ty Q) theo mục 12.6; 12.7 của Điều 12 của Hợp đồng, và vi phạm tại điểm đ khoản 2 Điều 112; khoản 3 Điều 123 Luật xây dựng năm 2014, kéo dài để không thanh toán cho nguyên đơn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Bị đơn không đưa ra được chứng cứ chứng minh nên cấp phúc thẩm không chấp nhận trình bày của bị đơn.
Xét quá trình hai bên thực hiện theo hợp đồng và 17 Phụ lục thì trong hợp đồng hoặc Phụ lục đều có thỏa thuận giá hay đơn giá cho công việc thực hiện, Công ty C2 đã thực hiện công việc và được Công ty Q xác nhận khối lượng đã làm (các bảng tổng hợp quyết toán khối lượng, các biên bản chuyển giao hồ sơ thanh toán, biên bản chuyển giao nghiệm thu thanh toán... nguyên đơn đã nộp từ sơ thẩm), số liệu tính toán phù hợp với Bảng tổng hợp khối lượng nguyên đơn cung cấp tại sơ thẩm: Giá trị công trình đã thực hiện 8.485.994.000 đồng, Công ty Q đã trả 6.866.946.576 đồng, còn nợ 1.619.047.424 đồng tính tròn số là 1.619.048.000 đồng như cấp sơ thẩm nhận định là có cơ sở.
[2.1.2] Xét yêu cầu về tiền lãi do chậm thanh toán:
Căn cứ mục 7.1 Điều 7, tại trang 8/15 (hợp đồng ghi nhầm Điều 8) của hợp đồng hai bên thỏa thuận về thanh toán, quyết toán giá trị hợp đồng “ ..thời hạn thanh toán thi công của chủ đầu tư là trong vòng 10 ngày kể từ ngày bên A nhận đủ hồ sơ thanh toán của bên B..”; Căn cứ thỏa thuận tại Điều 10 của hợp đồng số 132/2015-HĐTC ngày 16/9/2015 quy định “Bên A chậm thanh toán quá 30 ngày theo quy định phải chịu phạt chậm thanh toán theo mức lãi suất quá hạn do Ngân hàng V quy định tại thời điểm thanh toán nhưng không quá 02 tháng”;
10
Căn cứ Biên bản bàn giao chứng từ (các bảng tổng hợp giá trị quyết toán Hợp đồng 132 và bảng tổng hợp giá trị quyết toán Phụ lục hợp đồng 01 đế 17, nguyên đơn đã giao cho bị đơn từ 15/11/2018. Nguyên đơn yêu cầu tính thời hạn vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ ngày 25/12/2018, (sau 40 ngày sau khi bàn giao chứng từ) là phù hợp. Tuy nhiên các bên thỏa thuận “phải chịu phạt chậm thanh toán theo mức lãi suất quá hạn do Ngân hàng V” mà không nói rõ lãi suất nào nên phải căn cứ quy định tại Điều 306 Luật Thương mại.
Căn cứ Công văn số 3381/CNTPHCM-TH ngày 20/6/2023 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần C3 lãi suất cho vay trung hạn, dài hạn là 12,5%/năm. Lãi suất nợ quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn (tức 18,75%/năm)
Căn cứ Công văn số 686/NHNo.TTSG-PC ngày 13/6/2023 của Ngân hàng N1 lãi suất cho vay trung hạn, dài hạn là 9,6%/năm. Lãi suất nợ quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn (tức 14,4%/năm)
Căn cứ Công văn số 5862/HCM-TH ngày 09/6/2023 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N2 lãi suất cho vay trung hạn, dài hạn là 12%/năm. Lãi suất nợ quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn (tức 18%/năm).
Vậy lãi suất nợ quá hạn trung bình của 03 ngân hàng trên là 17,05%/năm. Nguyên đơn tính lãi suất 15%/năm là có lợi cho bị đơn nên cấp sơ thẩm xác định từ ngày 25/12/2018 đến ngày 20/6/2023 tiền lãi do chậm trả là 1.089.863.270 đồng. Tổng cộng gốc và tiền lãi do chậm trả của Hợp đồng số 132 và 17 Phụ lục là 2.708.911.270 đồng là có cơ sở, phù hợp với quy định khoản 1 Điều 113, Điều 144, Điều 146 của Luật xây dựng năm 2014 và phù hợp với đề nghị của Viện kiểm sát nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.2] Dự án L3, Quận C:
[2.2.1] Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự, xét Hợp đồng số 120/2015-HĐTC ngày 19/5/2017, hợp đồng số 161/2017-HĐTC ngày 05/7/2017, hợp đồng số 158/2016-HĐTC ngày 01/7/2016 và các phụ lục kèm theo hợp đồng thi công dự án Léman Luxury A N, Hội đồng xét xử phúc thẩm có cơ sở xác định như sau:
Công ty C2 và Công ty Q xác nhận có ký kết Hợp đồng số 120/2015-HĐTC ngày 19/5/2017, giá trị hợp đồng là 134.530.000 đồng đã bao gồm VAT; hợp đồng số 158/2016-HĐTC ngày 01/7/2016 giá trị hợp đồng là 366.609.804 đồng đã bao gồm VAT; Phụ lục Hợp đồng số 01/2017-PLHĐ của Hợp đồng số 158/HĐTC ngày 01/7/2016 giá trị phụ lục là 181.441.810 đồng đã bao gồm VAT; Phụ lục Hợp đồng số 02/2018-PLHĐ của Hợp đồng số 158/HĐTC ngày 01/7/2016 giá trị phụ lục là 21.744.360 đồng đã bao gồm VAT; hợp đồng số 161/2017-HĐTC ngày 05/7/2017, giá trị hợp đồng là 120.000.000 đồng để thi công dự án Léman Luxury Apartments N. Tổng giá trị các Hợp Đồng và phụ lục là 824.325.974 đồng.
11
Tại phiên tòa phúc thẩm cả nguyên đơn và bị đơn đều xác nhận các hợp đồng mà nguyên đơn thi công dự án Léman Luxury Apartments N chủ yếu là sửa chữa, dặm vá những chỗ mà nhà thầu khác chưa hoàn thiện.
Nguyên đơn cho rằng do chỉ là sửa chữa nên trước khi sửa hai bên đã đi xem xét hiện trạng thực tế, những công việc nguyên đơn phải làm đều được thể hiện bằng văn bản làm việc, Biên bản xác định diện tích cần làm tại công trường, do đó khi Khánh L1 thực hiện xong thì đó cũng là khối lượng mà hai bên quyết toán. Công ty C2 đã làm bảng tổng hợp giá trị quyết toán của tất cả các hợp đồng và Phụ lục của công trình Léman tổng cộng là 771.347.849 đồng. Phía Song Khuê đã thanh toán 334.189.000 đồng. Hiện còn nợ 437.158.849 đồng (chưa có VAT). Công ty C2 đã gửi đề nghị nghiệm thu nhưng Công ty Q không thực hiện.
Bị đơn cho rằng bị đơn đã yêu cầu Công ty C2 cung cấp hồ sơ thanh toán, quyết toán được ban Q1 ký theo điều khoản thanh quyết toán của hợp đồng nhưng nguyên đơn không cung cấp.
Hội đồng xét xử xét các văn bản viết tay nghiệm thu các căn hộ nhà thầu Khánh L1 đã defect xong (có người của Công ty Q xác nhận), văn bản đề nghị nghiệm thu ngày 16/5/2018 và các văn bản đề nghị nghiệm thu defect căn hộ, nghiệm thu xây tô, nghiệm thu cán nền gạch doremon, lợp mái nhà vệ sinh công cộng. Như vậy Công ty C2 có thực hiện yêu cầu Công ty Q nghiệm thu nhưng Công ty Q không thực hiện.
Căn cứ theo quy định tại điểm đ Khoản 2 Điều 112 Luật xây dựng năm 2014 quy định nghĩa vụ của chủ đầu tư “Tổ chức nghiệm thu, thanh toán, quyết toán công trình” và thỏa thuận tại mục 11.3 Điều 11 của các hợp đồng quy định quyền nghĩa vụ của bên A (công ty Q) “Nghiệm thu kịp thời các công việc, giai đoạn, hạng mục để bên B thi công phần tiếp theo”, do đó, nghiệm thu là trách nhiệm của Công ty Q. Việc hồ sơ thanh toán, quyết toán thiếu biên bản nghiệm thu, hai bên chưa xác định được khối lượng, hóa đơn VAT là do bị đơn không tiến hành nghiệm thu, không nghiệm thu để xác định khối lượng thực tế, không thống nhất được khối lượng nên nguyên đơn không xuất được hóa đơn giá trị gia tăng, hồ sơ thanh toán, quyết toán bị thiếu hoàn toàn là do lỗi của bị đơn, bị đơn cố tình trốn tránh trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn. Ngày 12/9/2018, công ty C2 đã bàn giao hồ sơ quyết toán các hạng mục của công trình Léman L2 Apartments Nguyễn Đình C1 (có ký xác nhận đã nhận hồ sơ) đến nay công ty Q không thanh toán cho công ty C2 là đã vi phạm theo thỏa thuận tại Điều 7 của các hợp đồng nêu trên.
Xét biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 10/3/2023 và tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn xác nhận công trình đã được được nghiệm thu tổng, nguyên đơn và bị đơn đều xác nhận công trình đã được đưa vào sử dụng từ năm 2018. Do đó cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán số tiền thi công xây dựng của dự án Léman L Apartments Nguyễn Đình C1 còn nợ là 437.158.849 đồng (chưa bao gồm VAT) là có căn cứ, phù hợp với quy định tại
12
Điều 278 Bộ luật Dân sự năm 2015, Khoản 1 Điều 113, Điều 144 của Luật xây dựng năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.2.2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đòi bị đơn phải thanh toán số tiền lãi do chậm thanh toán:
Ngày 12/9/2018, Công ty C2 đã bàn giao hồ sơ quyết toán các hạng mục của công trình Léman L2 Apartments Nguyễn Đình C1 (có ký xác nhận đã nhận hồ sơ) đến nay Công ty Q không thanh toán cho công ty C2 là đã vi phạm theo thỏa thuận tại Điều 7 của các hợp đồng nêu trên, nguyên đơn xác định ngày 22/10/2018 là thời điểm tính lãi do chậm thanh toán là có cơ sở và phù hợp với quy định tại Điều 146 Luật xây dựng và Điều 9 của các hợp đồng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Căn cứ thỏa thuận tại Điều 9 của các hợp đồng số 120/2015-HĐTC ngày 19/5/2017, hợp đồng số 161/2017-HĐTC ngày 05/7/2017, hợp đồng số 158/2016-HĐTC ngày 01/7/2016 và 02 phụ lục kèm theo hợp đồng số 158/2016-HĐTC ngày 01/7/2016 quy định “Bên A chậm thanh toán quá 30 ngày theo Điều 7 trong hợp đồng này thì phải chịu phạt chậm thanh toán theo mức lãi suất quá hạn do Ngân hàng V quy định tại thời điểm thanh toán”. Tại Khoản 7.3 Điều 7 quy định “ ...thời gian thanh toán trong vòng 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ quyết toán..”
Như đã phân tích ở trên, lãi suất nợ quá hạn trung bình của 03 ngân hàng trên là 17,05%/năm. Nguyên đơn tính lãi suất 15%/năm là có lợi cho bị đơn nên cấp sơ thẩm xác định từ ngày 22/10/2018 đến ngày 20/6/2023 tiền lãi do chậm thanh toán là 305.771.655 đồng. Tổng cộng gốc và tiền lãi do chậm thanh toán của các hợp đồng số 120/2015-HĐTC ngày 19/5/2017, hợp đồng số 161/2017-HĐTC ngày 05/7/2017, hợp đồng số 158/2016-HĐTC ngày 01/7/2016 và 02 phụ lục kèm theo hợp đồng số 158/2016-HĐTC ngày 01/7/2016 là 742.930.504 đồng là có cơ sở, phù hợp với quy định khoản 1 Điều 113, Điều 144, Điều 146 của Luật xây dựng năm 2014 và phù hợp với đề nghị của Viện kiểm sát nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.3] Dự án CT Plaza phố Wall
Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn đã rút lại yêu cầu bồi thường thiệt hại của Hợp đồng thi công xây dựng công trình số 70/2017-HĐTC và Phụ lục hợp đồng số 01 ngày 27/03/2017 dự án CT Plaza phố W được Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận và quyết định đình chỉ yêu cầu này trong phần quyết định của bản án sơ thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn không có ý kiến đối với phần quyết định đình chỉ này nên Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên phần quyết định này của bản án sơ thẩm.
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm. Đề nghị của
13
đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[4] Về án phí:
Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Yêu cầu kháng cáo của Công ty Q không được chấp nhận, giữ nguyên bản án sơ thẩm nên Công ty Q phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm căn cứ theo quy định tại Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 148, Điều 293, khoản 1 Điều 308, Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty Cổ phần Quốc tế Song Khuê
2. Giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 90/2023/KDTM-ST ngày 26/6/2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH MTV C2:
Buộc Công ty Cổ phần Q phải thanh toán cho Công ty TNHH MTV C2 nợ gốc và lãi do chậm thanh toán tính đến hết ngày 20/6/2023 là 3.451.841.774 đồng (Ba tỷ bốn trăm năm mươi mốt triệu tám trăm bốn mươi mốt ngàn bảy trăm bảy mươi bốn đồng) cụ thể: Hợp đồng thi công xây dựng số 132/2015-HĐTC ngày 16/9/2015 và 17 phụ lục kèm theo hợp đồng của dự án I-Home Phạm Văn C nợ gốc 1.619.048.000 đồng (đã có VAT) và lãi do chậm thanh toán 1.089.863.270 đồng; Các hợp đồng số 120/2015-HĐTC ngày 19/5/2017, hợp đồng số 161/2017-HĐTC ngày 05/7/2017, hợp đồng số 158/2016-HĐTC ngày 01/7/2016 và 02 phụ lục kèm theo hợp đồng số 158/2016-HĐTC ngày 01/7/2016 của dự án Léman Luxury Apartments Nguyễn Đình C1 nợ gốc 437.158.849 đồng (chưa có VAT) và lãi do chậm thanh toán 305.771.655 đồng. Thanh toán 01 lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 21/6/2023 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 306 Luật thương mại.
4. Đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của Hợp đồng thi công xây dựng công trình số 70/2017-HĐTC và Phụ lục hợp đồng số 01 ngày 27/03/2017 dự án CT P phố W.
5. Về án phí sơ thẩm và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:
- Hoàn lại Công ty TNHH MTV C2 tiền tạm ứng án phí đã nộp là 56.196.950 đồng (Năm mươi sáu triệu một trăm chín mươi sáu ngàn chín trăm
14
năm mươi đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0030799 ngày 31/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình.
- Công ty Cổ phần Q phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 101.036.835 đồng (Một trăm lẻ một triệu không trăm ba mươi sáu ngàn tám trăm ba mươi lăm đồng).
- Công ty Cổ phần Q có trách nhiệm thanh toán lại chi phí xem xét thẩm định tại chỗ cho Công ty TNHH MTV C2 số tiền là 12.000.000đ (Mười hai triệu đồng).
6. Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Công ty Cổ phần Q phải chịu án phí phúc thẩm 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0023421 ngày 02/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự đã sửa đổi bổ sung năm 2014.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Bích Thảo |
15
Bản án số 1108/2023/KDTM-PT ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng xây dựng và bồi thường thiệt hại
- Số bản án: 1108/2023/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng xây dựng và bồi thường thiệt hại
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền hàng
