Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 1108/2024/HC-PT

Ngày: 27 - 9 - 2024

V/v Khiếu kiện quyết định hành chính

và hành vi hành chính.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Dũng

Các Thẩm phán: Ông Phan Văn Yên

Ông Phạm Trí Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngụy Tiến Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hiến - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 26 và 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 631/2024/TLPT-HC ngày 26 tháng 7 năm 2024 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính và hành vi hành chính”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 59/2024/HC-ST ngày 09 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1075/2024/QĐPT-HC ngày 10 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

  • Người khởi kiện: Ông Vương Đình C, sinh năm 1977; Địa chỉ: 1 đường T, Phường T, quận A, TP . Hồ Chí Minh.
  • Người đại diện uỷ quyền: Bà Nguyễn Thị Phụng C1, sinh năm 1968 và ông Phạm Công M, sinh năm 1996. Cùng địa chỉ: Tầng D, DN, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
  • Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp: Luật sư Phan Hồng V và Luật sư Lê Văn T thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. Địa chỉ: Công ty L, Tầng D, DN, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt Luật sư Phan Hồng V)
  • Người bị kiện:
    1. Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Long An.
    2. Chủ tịch UBND thành phố T, tỉnh Long An.

Người đại diện theo pháp luật của Ủy ban nhân dân thành phố T và Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T: Ông Võ Hồng T1 – Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Ủy ban nhân dân thành phố T và Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T:

  • Ông Hồ Hoài V1, chức vụ: Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố T. (có mặt)
  • Ông Phan Lê M1, chức vụ: Quyền Giám đốc Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng thành phố T. (có mặt)

3/. Chủ tịch UBND tỉnh L.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Chủ tịch UBND tỉnh: Ông Trần Thanh S, chức vụ: Phó Phòng Quản lý đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L. (vắng mặt)

- Người kháng cáo: Ông Vương Đình C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Người khởi kiện ông Vương Đình C trình bày:

Ngày 10/12/2018 Phó Chủ tịch UBND thành phố T ký các quyết định số 5265/QĐ-UBND, Quyết định số 5277/QĐ-UBND ngày 10/12/2018 thu hồi đất của ông Vương Đình C tổng diện tích là 167m² đất ở trong đó bao gồm đất để thực hiện Dự án Đường vành đai thành phố T và cầu bắc qua sông V, phần làm đường (phạm vi tối đa 33m) và phần đất 20m tiếp theo sau phạm vi 33m để thực hiện bán đấu giá. Các quyết định không tách biệt diện tích thu hồi để làm đường và diện tích thu hồi để bán đấu giá và cùng ghi chung mục đích thu hồi là “thực hiện dự án Đường vành đai thành phố T và cầu bắc qua sông V”.

Các quyết định thu hồi đất nêu trên chưa đúng với quy định về thu hồi đất, UBND thành phố T ban hành các quyết định thu hồi đất khi chưa thực hiện xong việc kê biên, kiểm đếm tài sản và hoa màu trên đất.

Các quyết định thu hồi đối với ông Vương Đình C với lý do thu hồi để thực hiện dự án đường vành đai thành phố T nhưng lại bao gồm cả phần đất nằm ngoài hạng mục đầu tư dự án với mục đích thu hồi để bán đấu giá.

Đất bị thu hồi để bán đấu giá mang mục đích thương mại, không thuộc đối tượng bắt buộc phải thu hồi theo Luật đất đai. Việc thu hồi đất vì mục đích thương mại phải có dự án tách biệt rõ ràng và phải được triển khai thực hiện theo một trình tự nhất định theo quy định của pháp luật về đất đai trước khi ban hành quyết định thu hồi đất. Vì vậy, các quyết định thu hồi đất với lý do thu hồi đất là làm đường vành đai nhưng lại thu thêm đất để bán là vi phạm nghiêm trọng luật đất đai, xâm phạm quyền lợi hợp pháp chính đáng của người bị thu hồi đất.

Về việc phê duyệt tiền bồi thường, hỗ trợ: Do việc ban hành quyết định phê duyệt tiền bồi thường hỗ trợ gần 1 năm sau khi có quyết định phê duyệt phương

án và hệ số điều chỉnh giá (Quyết định số 897/QĐ-UBND ngày 23/3/2018) trong khi đó năm 2018 là năm có biến động lớn về giá trên thị trường địa ốc. Vì vậy, Quyết định số 5857/QĐ-UBND ngày 13/12/2018 của UBND thành phố T về việc phê duyệt tiền bồi thường, hỗ trợ của ông Vương Đình C áp dụng đơn giá bồi thường đất quá thấp so với giá thực tế tại thời điểm ban hành quyết định làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của ông C, tiền bồi thường không đủ bù đắp thiệt hại. Cụ thể đơn giá bồi thường đất đất ở tiếp giáp đường P là 2.244.960 đồng/m² trong khi đó bảng giá tính thuế đất do UBND tỉnh L ban hành 7/2020 đất ở trên đường P là 3.300.000 đồng/m². Đất ở của ông C thuộc diện nợ thuế chuyển mục đích sử dụng, như vậy mỗi một m² bị thu hồi ông C phải trả cho nhà nước 1.055.040 đồng, nếu giao đất cho dự án ông C không nhận được đồng nào mà còn phải nợ nhà nước 282.329.680 đồng. Thật sự hết sức vô lý vì giá trị đất âm.

Hơn nữa, theo phương án tài chính của tỉnh Long An, giá bán đất ở bình quân trên phần đất 20m x 2 bên đường vành đai khởi điểm là 11,8 triệu đồng/m² (văn bản số 1394/STC-QLCS ngày 10/5/2019 của Sở T cho rằng có lệch quá lớn sẽ dẫn đến thắc mắc, khiếu nại).

Các quyết định trên thiếu chính sách hỗ trợ di dời, ổn định cuộc sống, ổn định sản xuất, thiếu chính sách tái định cư.

Với những thiếu sót trong việc ban hành các quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt tiền bồi thường hỗ trợ của UBND thành phố T, ông C đã có khiếu nại yêu cầu hủy các quyết định số 5265/QĐ-UBND, Quyết định số 5277/QĐ-UBND ngày 10/12/2018 và Quyết định số 5857/QĐ-UBND ngày 13/12/2018 của UBND thành phố T giải quyết khiếu nại lần đầu bằng Quyết định số 2582/QĐ-UBND ngày 4/6/2019, theo đó bác toàn bộ yêu cầu của ông C.

Ông C đã gửi đơn khiếu nại lần 2 đến Chủ tịch UBND tỉnh L. Ngày 29/11/2019 Chủ tịch UBND tỉnh L đã giải quyết khiếu nại lần 2 bằng quyết định số 4307/QĐ-UBND ngày 20/11/2019. Theo đó, Chủ tịch UBND tỉnh L quyết định yêu cầu Chủ tịch UBND thành phố T thực hiện điều chỉnh Quyết định số 2582/QĐ-UBND ngày 04/6/2019 về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của ông Vương Đình C vì thiếu các khoản hỗ trợ.

Đến nay hơn 02 năm nhưng UBND thành phố T chưa thực hiện theo Quyết định số 4307/QĐ-UBND ngày 20/11/2019 của UBND tỉnh L. Ngày 12/4/2022, ông C có gửi văn bản yêu cầu UBND thành phố T xử lý quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 số 4307/QĐ-UBND ngày 20/11/2019 của UBND tỉnh L đồng thời yêu cầu giữ lại phần 20m sau phạm vi làm đường nhưng U vẫn không giải quyết mà có Văn bản số 1536/UBND-NCTCD ngày 20/4/2022 gửi cho Ban quản lý dự án yêu cầu tham mưu hướng giải quyết.

Ông C khởi kiện đề nghị Tòa án huỷ toàn bộ các quyết định hành chính có liên quan gồm: Quyết định số 5265/QĐ-UBND, Quyết định số 5277/QĐ-UBND ngày 10/12/2018, Quyết định số 5857/QĐ-UBND ngày 13/12/2018 của UBND thành phố T và Quyết định số 4307QĐ-UBND ngày 20/11/2019 của UBND tỉnh L.

Đề nghị UBND thành phố T ban hành các quyết định thu hồi đất, tách phần làm đường (phạm vi tối đa là 33m) và phần đất 20m tiếp theo sau phạm vi 33m để thực hiện bán đấu giá.

Tại Văn bản số 1193/UBND-NCTCD ngày 21/02/2023 của người bị kiện Chủ tịch UBND tỉnh L có nội dung như sau:

Việc thu hồi đất và bồi thường hỗ trợ tái định cư đối với hộ ông Vương Đình C:

Ngày 29/11/2017, Trung tâm K kết hợp với Trung tâm Phát triển Quỹ đất thành phố T tiến hành đo đạc, kiểm đếm hiện trạng tài sản của người có tài sản gắn liền với đất thu hồi. Kết quả kiểm đếm: Thửa đất số 1136, tờ bản đồ số 4, diện tích giải tỏa 117m², loại ONT và Thửa đất số 1033, tờ bản đồ số 4, diện tích giải tỏa 60m², loại BHK. Tổng diện tích: 177m².

Ngày 20/11/2017, UBND thành phố T ban hành Thông báo số 466/TBUBND về thu hồi đất để thực hiện Dự án đường Vành đai thành phố T đối với ông Vương Đình C, tổng diện tích đất thu hồi 177m².

Ngày 10/12/2018 UBND thành phố T ban hành Quyết định số 5265/QĐ-UBND và Quyết định số 5277/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của ông Vương Đình C; diện tích: 60m², thuộc thửa đất 1033, tờ bản đồ số 4, loại đất HNK và 117m², thuộc một phần thửa đất 1136, tờ bản đồ số 4, loại đất ONT; địa điểm: tại xã B, thành phố T.

Ngày 13/12/2018 UBND thành phố T ban hành Quyết định số 5857/QĐ-UBND về việc phê duyệt tiền bồi thường, hỗ trợ của ông Vương Đình C. Tổng số tiền: 434.251.000 đồng (kèm theo bảng chiết tính lập ngày 07/12/2018).

Tổng diện tích đất thu hồi đối với ông C là 177m² là đúng chủ trương của UBND tỉnh L và đúng với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng như thực tế sử dụng.

Tổng tiền bồi thường, hỗ trợ của hộ ông Vương Đình C là 434.251.000 đồng gồm:

  • Giá trị quyền sử dụng đất 342.280.560 đồng.
  • Hỗ trợ chuyển đổi nghề 3.360.000 đồng.
  • Hỗ trợ tái định cư bằng tiền 88.610.000 đồng.

Bồi thường giá trị quyền sử dụng đất đúng theo Quyết định số 897/QĐ-UBND ngày 23/3/2018 của UBND tỉnh L về việc phê duyệt Phương án hệ số điều chỉnh giá đất, chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thực hiện dự án thành phần 3: Đoạn từ Km 14+ 500 giao với đường T (đường N nối dài) đến ngã năm T (Km 22 + 350) và cầu bắc qua sông V thuộc Dự án đường V thành phố T. Địa điểm: xã B, xã N và Phường E, thành phố T.

Hỗ trợ chuyển đổi nghề, tái định cư bằng tiền thực hiện đúng theo Quyết định số 09/2018/QĐ-UBND ngày 20/3/2018 của UBND tỉnh L về việc ban hành

Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Long An và Quyết định số 5654/QĐ-UBND ngày 10/12/2018 của UBND thành phố T về việc phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư số 3207/PA-HĐBT ngày 07/12/2018 của Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thành phố T.

Thiếu thực hiện chế độ hỗ trợ ổn định đời sống khi thu hồi đất nông nghiệp (Khoản 1, Điều 13 Quyết định số 09/2018/QĐ-UBND ngày 20/3/2018): Trường hợp này giải tỏa 100% đất nông nghiệp sẽ hưởng chế độ: Số nhân khẩu x 30kg gạo x đơn giá x 12 tháng.

Đối với yêu cầu khởi kiện của ông C, UBND tỉnh L có ý kiến như sau: Ngày 20/9/2019 Chủ tịch UBND tỉnh L ban hành Quyết định số 4307/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại lần 2 đối với ông Vương Đình C, trong đó đồng ý bổ sung thêm chế độ hỗ trợ ổn định đời sống là đúng qui định pháp luật.

Tại Văn bản số 456/UBND-NC ngày 13/02/2023 của người bị kiện Chủ tịch và UBND thành phố T, tỉnh Long An có nội dung như sau:

1/. Trình tự thủ tục thực hiện kê biên, thu hồi đất và bồi thường đối với ông Vương Đình C:

Ngày 19/9/2017, UBND thành phố có Thông báo về việc thu hồi đất của ông Vương Đình C để thực hiện dự án thành phần 3: Đoạn từ nút giao ĐT.827A (Km14+500) đến ngã năm T (Km22+350) và cầu bắc qua sông V. Phân đoạn 1: Đoạn (Km14+500) đến ngã năm T (Km22+350) và cầu bắc qua sông V. Phân đoạn 1: Đoạn từ Km14+500 giao với đường tỉnh 827A (đường N nối dài) đến Km17+500 thuộc dự án đường vành đai.

Ngày 22/9/2017, Hội đồng bồi thường tái định cư thành phố triển khai chủ trương thu hồi đất và có kiểm đếm đất đai, tài sản trên đất để bồi thường giải phóng mặt bằng của ông Vương Đình C; thông báo thu hồi đất dự án thành phần 3: Đoạn từ nút giao ĐT.827A (Km14+500) đến ngã năm T (Km22+350) và cầu bắc qua sông V. Phân đoạn 1: Đoạn (Km14+500) đến ngã năm T (Km22+350) và cầu bắc qua sông V. Phân đoạn 1: Đoạn từ Km14+500 giao với đường tỉnh 827A (đường N nối dài) đến Km17+500 thuộc dự án đường vành đai thành phố T. Địa điểm: xã B, thành phố T. Trong cuộc họp triển khai này, Hội đồng bồi thường tái định cư có lập danh sách hộ dự họp, các hộ nhận thông báo thu hồi đất, tờ khai trong đó có các hộ tham dự.

Ngày 29/11/2017, Trung tâm phát triển quỹ đất tại thành phố T lập biên bản đo đạc, kiểm đếm hiện trạng tài sản của người có tài sản gắn liền với đất thu hồi đối với ông Vương Đình C.

Ngày 10/12/2018, UBND thành phố ban hành Quyết định số 5277/QĐ-UBND về việc thu hồi một phần thửa 1136, tờ bản đồ số 4, loại đất ONT, diện tích 117m², Quyết định số 5265/QĐ-UBND về việc thu hồi một phần thửa 1033, tờ bản đồ số 4, loại đất HNK, diện tích 60m² của ông Vương Đình C và Quyết định 5857/QĐ-UBND ngày 13/12/2018 về việc phê duyệt tiền bồi thường, hỗ trợ của

ông Vương Đình C.

2/. Quá trình giải quyết ý kiến của ông Vương Đình C:

Hội đồng bồi thường đã có CV số 3396/UBND-HĐBT ngày 14/12/2018 V/v trả lời ý kiến của hộ như sau:

“Về chủ trương thu hồi đất 20m mỗi bên: Thực hiện theo Quyết định 362/QĐ-UBND ngày 26/01/201/8 của UBND tỉnh L về việc phê duyệt dự án đầu tư đường vành đai thành phố T và cầu bắc qua sông V (Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư các đoạn còn lại thuộc địa bàn thành phố T); Quyết định 1992/QĐ-UBND ngày 14/6/2018 của UBND tỉnh điều chỉnh chủ đầu tư dự án từ “UBND thành phố T” sang “Trung tâm Phát triển Quỹ đất tỉnh” và Nghị quyết số 05/NQ-HĐND ngày 24/4/2018 của Hội đồng nhân dân tỉnh L về việc điều chỉnh Nghị quyết số 215/NQ-HĐND về đầu tư dự án đường vành đai thành phố T và cầu bắc qua sông V tây: “1. Dự án đường vành đai thành phố T: - Bổ sung phạm vi đầu tư thực hiện giải phóng mặt bằng toàn tuyến phạm vi 73m bao gồm: Phần đường là 33m, phân khu chức năng rộng 40m (mỗi bên 20m). Quy hoạch phân khu chức năng đã được duyệt, công bố và thông tin rộng rãi trên các phương tiện thông tin và công bố tại trụ sở UBND xã phường nơi có dự án.

Về việc yêu cầu hủy quyết định cưỡng chế thu hồi đất.

Chủ trương thu hồi phần 20m x 2 bên đường:

Ngày 21/9/2016, UBND tỉnh L ban hành Quyết định số 3855/QĐ-UBND về việc phê duyệt dự án đường V thành phố T, và cầu bắc qua sông V (Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ tái định cư các đoạn còn lại thuộc địa bàn thành phố T).

Ngày 05/7/2017, UBND tỉnh L ban hành Thông báo số 290/TB-UBND kết luận của UBND tỉnh tại buổi làm việc với Sở ngành tỉnh và nhà đầu tư xây dựng các dự án thành phần thuộc dự án đường vành đai thành phố T và dự án cầu bắc qua sông V.

UBND tỉnh L ban hành Quyết định số 362/QĐ-UBND ngày 26/01/2018 về việc phê duyệt dự án đầu tư đường vành đai thành phố T và cầu bắc qua sông V (Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư các đoạn còn lại thuộc địa bàn thành phố T). Tại Quyết định nêu:

“Đoạn từ Quốc lộ A- Đ.827A (km9+400 đến Km14+500)

Qui mô mặt cắt ngang đường theo tiêu chuẩn đô thị (TCXDVN104-2007) với nền đường rộng là 33m. Qui mô phân khu chức năng rộng 20mx2 bên. Tổng cộng phạm vi cắm cọc giải phóng mặt bằng phần phân khu chức năng và phần nền đường là 73m”.

Ngày 30/8/2018, UBND thành phố ban hành Thông báo số 212/TB-UBND về chủ trương thu hồi đất và triển khai kiểm đếm đất đai tài sản trên đất để giải phóng mặt bằng dự án thành phần 2: Đoạn QL1 đến ĐT.827A thuộc dự án đường vành đai thành phố T; địa điểm: Phường T, xã A và Phường G; Chủ đầu tư: Sở G, tại mục 5 có ghi: “Thiết kế đường đô thị, nền đường 33m, dự kiến phát triển quỹ

đất mỗi bên 20mx2 =40m".

Ngày 11/9/2017, UBND thành phố T ban hành Thông báo thu hồi đất để thực hiện dự thành phần 2: Đoạn QL1 đến ĐT.827A thuộc dự án đường vành đai thành phố T; địa điểm: Xã A, thành phố T.

Về chủ trương thu hồi đất 20m: Phần mở rộng (20m x 02 bên) dọc tuyến đường V thành phố T không dùng vào mục đích phân lô bán nền, mà để tạo quỹ đất sạch để triển khai xây dựng các phân khu chức năng theo quy hoạch được duyệt; cụ thể phần 20m x 02 bên này sẽ trở thành đất công do nhà nước quản lý và nhà nước sẽ công bố đấu giá công khai gắn với thực hiện đầu tư các phân khu chức năng nhằm tạo nguồn thu đầu tư đường Vành đai phạm vi 33m; phần 20m x 02 bên này sẽ thực hiện theo quy hoạch chi tiết từng phân khu theo ý tưởng quy hoạch được UBND thành phố T phê duyệt.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 59/2024/HC-ST ngày 09 tháng 5 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Long An quyết định:

Căn cứ Điều 62, Điều 66, Điều 69, Điều 70 và Điều 71 Luật Đất đai;

Căn cứ Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1/. Đình chỉ vụ án đối với các yêu cầu:

  • Hủy Quyết định số 5265/QĐ-UBND ngày 10/12/2018 về việc thu hồi đất của ông Vương Đình C. Dự án: Đường vành đai thành phố T và cầu bắc qua sông V (Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư các đoạn còn lại thuộc địa bàn thành phố T) Đoạn từ nút giao ĐT 827A (đường N nối dài) đến km17+500 (Km14+500-Km17+500). Địa điểm: Tại xã B, thành phố T. Do người khởi kiện rút yêu cầu.
  • Hủy một phần Quyết định số 5277/QĐ-UBND ngày 10/12/2018 về việc thu hồi đất của ông Vương Đình C. Dự án: Đường vành đai thành phố T và cầu bắc qua sông V (Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư các đoạn còn lại thuộc địa bàn thành phố T) Đoạn từ nút giao ĐT 827A (đường N nối dài) đến km17+500 (Km14+500-Km17+500). Địa điểm: Tại xã B, thành phố T. Hủy một phần đối với nội dung thu hồi phần 20m x 2 bên đường.
  • Hủy Quyết định số 5857/QĐ-UBND ngày 13/12/2018 của UBND thành phố T về việc phê duyệt tiền bồi thường, hỗ trợ của ông Vương Đình C. Dự án: Đường vành đai thành phố T và cầu bắc qua sông V (Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư các đoạn còn lại thuộc địa bàn thành phố T) Đoạn từ nút giao ĐT 827A (đường N nối dài) đến km17+500 (Km14+500-Km17+500). Địa điểm: Tại xã B, thành phố T.
  • Hủy một phần Quyết định số 4307/QĐ-UBND ngày 20/11/2019 của UBND tỉnh L về việc giải quyết khiếu nại (lần 2) của ông Vương Đình C; ngụ số 162/25/5 TTN H, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Hủy một phần đối với nội

dung thu hồi đất, giá bồi thường đất và các khoản hỗ trợ khác.

2/. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Vương Đình C đối với các yêu cầu:

  • 2.1/. Hủy Quyết định số 2035/QĐ-UBND ngày 07/7/2022 của Chủ tịch UBND thành phố T về việc cưỡng chế thu hồi đất.
  • 2.2/. Yêu cầu UBND thành phố T ban hành các quyết định thu hồi đất, tách phần làm đường (phạm vi tối đa là 33m) và phần đất 20m tiếp theo sau phạm vi 33m để thực hiện bán đấu giá.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 21/5/2024, người khởi kiện ông Vương Đình C có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện ông Vương Đình C vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Vương Đình C.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện UBND thành phố T, Chủ tịch UBND thành phố T đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của ông Vương Đình C; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

  • Về việc chấp hành pháp luật: Hội đồng xét xử phúc thẩm và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Luật tố tụng hành chính.
  • Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của ông Vương Đình C làm trong hạn luật định, hợp lệ về hình thức nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

[2.1] Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông Vương Đình C xác định rút yêu cầu khởi kiện đối với Quyết định thu hồi đất số 5265/QĐ-UBND ngày 10/12/2018 của UBND thành phố T; yêu cầu hủy một phần Quyết định số 5277/QĐ-UBND về việc thu hồi phần 20m x 2m; một phần Quyết định giải quyết khiếu nại số 4307/QĐ-UBND ngày 20/11/2019 của Chủ tịch UBND

tỉnh L; hủy toàn bộ Quyết định số 5857/QĐ-UBND ngày 13/12/2018 của UBND thành phố T về việc phê duyệt tiền bồi thường, hỗ trợ và Quyết định số 2035/QĐ-UBND ngày 07/7/2022 của Chủ tịch UBND thành phố T về việc cưỡng chế thu hồi đất.

[2.2] Đối với Quyết định số 5265/QĐ-UBND, người khởi kiện đã rút lại yêu cầu khởi kiện nên Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết là có căn cứ.

Đối với Quyết định thu hồi đất số 5277/QĐ-UBND, Quyết định phê duyệt tiền bồi thường, hỗ trợ số 5857/QĐ-UBND, năm 2018 ông C đã nhận được và có đơn khiếu nại đến Chủ tịch UBND thành phố T, Chủ tịch UBND tỉnh L. Ngày 20/11/2019, Chủ tịch UBND tỉnh L ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 4307/QĐ-UBND, bác khiếu nại của ông C đối với các quyết định nêu trên. Quyết định đã được giao cho ông C vào năm 2019. Đến ngày 10/11/2022, ông C mới khởi kiện yêu cầu hủy các quyết định trên thuộc trường hợp hết thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 116 Luật tố tụng hành chính. Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết đối với các yêu cầu này là phù hợp với quy định pháp luật.

[2.3] Đối với yêu cầu buộc UBND thành phố T ban hành các quyết định thu hồi đất, tách phần làm đường (phạm vi tối đa là 33m) và phần đất 20m tiếp theo sau phạm vi 33m để thực hiện bán đấu giá và hủy quyết định cưỡng chế thu hồi đất, thấy rằng:

UBND thành phố T ban hành các quyết định thu hồi đất để thực hiện dự án đường V và cầu bắc qua sông V Tây theo chủ trương của Hội đồng nhân dân tỉnh L và UBND tỉnh L phê duyệt. Trong quá trình thực hiện dự án có điều chỉnh bổ sung việc thu hồi từ 33m làm đường Vành đai và thu hồi thêm 20m x 2 bên đường V để thực hiện bán đấu giá làm các phân khu chức năng đã được phê duyệt. Việc điều chỉnh này đã được Nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh L thông qua và được Quyết định số 3855/QĐ-UBND ngày 21/9/2016 và số 362/QĐ-UBND ngày 26/01/2018 của UBND tỉnh L quyết định phê duyệt dự án. Do đó, ông C cho rằng chỉ đồng ý việc thu hồi 33m làm đường mà không đồng ý thu hồi thêm 20m x 2 bên là trái chủ trương của địa phương về việc thu hồi đất nhằm mục đích phát triển kinh tế xã hội theo Điều 62 Luật Đất đai.

UBND thành phố T ban hành Quyết định số 5265/QĐ-UBND và Quyết định số 5277/QĐ-UBND cùng ngày 10/12/2018 về việc thu hồi đất của ông C; Quyết định số 5857/QĐ-UBND ngày 13/12/2018 về việc phê duyệt tiền bồi thường, hỗ trợ của ông C là đúng theo quy định tại Điều 62, Điều 66 và Điều 69 Luật Đất đai. Cụ thể, có thông báo chủ trương thu hồi đất, việc điều chỉnh diện tích thu hồi và phạm vi thu hồi từ 33m đường Vành đai và thu hồi 20m x 2 bên là thực hiện đúng theo các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh gồm Nghị quyết số 215/NQ-HĐND ngày 18/11/2015, Nghị quyết số 05/NQ-HĐND ngày 24/4/2018, Nghị quyết số 46/NQ-HĐND ngày 26/10/2018 và Nghị quyết số 19/NQ-HĐND ngày 23/5/2019. Công văn số 3493/UBND-KT ngày 13/8/2018, của UBND tỉnh L về việc điều chỉnh địa điểm, phạm vi dự án đường V và cầu bắc qua sông V Tây là theo sự điều chỉnh và phê duyệt của HĐND tỉnh L và UBND

tỉnh L. Do đó, theo nội dung các văn bản nêu trên thì dự án đường Vành đai với phạm vi thu hồi là 73m (trong đó 33m làm đường Vành đai và 20m x 02 bên là tạo quỹ đất sạch để quy hoạch phân khu chức năng). Ông C cho rằng thu hồi thêm 20m x 2 bên phải tách thành 02 dự án để bồi thường là không có cơ sở chấp nhận.

Ông C có khiếu nại quyết định về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất đến UBND thành phố T. Ngày 04/6/2019 Chủ tịch UBND thành phố T ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 2582/QĐ-UBND trả lời khiếu nại cho ông C. Không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch UBND thành phố T, ông C khiếu nại đến Chủ tịch UBND tỉnh L, ngày 20/11/2019 Chủ tịch UBND tỉnh L ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 số 4307/QĐ-UBND. Do các quyết định nêu trên đã có hiệu lực pháp luật và ông C không chấp hành, không bàn giao đất thu hồi nên Chủ tịch UBND thành phố T ban hành Quyết định số 2035/QĐ-UBND ngày 07/7/2022 về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với ông C là đúng quy định tại Điều 69 và Điều 71 Luật Đất đai. Trình tự cưỡng chế được thực hiện đúng quy định tại Điều 70 và Điều 71 Luật Đất đai. Ông C cho rằng quyết định cưỡng chế thu hồi đất của Chủ tịch UBND thành phố T không đúng quy định pháp luật là không có căn cứ. Mặt khác, theo quy định tại khoản 4 Điều 67, Điều 71 Luật Đất đai và khoản 6 Điều 17 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ thì “Trong khi chưa có quyết định giải quyết khiếu nại thì vẫn phải tiếp tục thực hiện quyết định thu hồi đất, cưỡng chế thu hồi đất. Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có kết luận việc thu hồi đất trái pháp luật thì phải dừng cưỡng chế nếu việc cưỡng chế chưa hoàn thành...”. Vì vậy, Chủ tịch UBND thành phố T ban hành quyết định cưỡng chế thu hồi đất của ông C là cần thiết và đúng quy định pháp luật.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Kháng cáo của ông Vương Đình C không có cơ sở chấp nhận; cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Vương Đình C phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 241, Điều 242 Luật tố tụng hành chính.

Không chấp nhận kháng cáo của ông Vương Đình C.

Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 59/2024/HC-ST ngày 09 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

Áp dụng Điều 62, Điều 66, Điều 69, Điều 70 và Điều 71 Luật Đất đai; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12

năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/. Đình chỉ giải quyết đối với các yêu cầu:

  • Hủy Quyết định số 5265/QĐ-UBND ngày 10/12/2018 về việc thu hồi đất của ông Vương Đình C. Dự án: Đường vành đai thành phố T và cầu bắc qua sông V (Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư các đoạn còn lại thuộc địa bàn thành phố T) Đoạn từ nút giao ĐT 827A (đường N nối dài) đến km17+500 (Km14+500-Km17+500). Địa điểm: Tại xã B, thành phố T.
  • Hủy một phần Quyết định số 5277/QĐ-UBND ngày 10/12/2018 về việc thu hồi đất của ông Vương Đình C. Dự án: Đường vành đai thành phố T và cầu bắc qua sông V (Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư các đoạn còn lại thuộc địa bàn thành phố T) Đoạn từ nút giao ĐT 827A (đường N nối dài) đến km17+500 (Km14+500-Km17+500). Địa điểm: Tại xã B, thành phố T.
  • Hủy Quyết định số 5857/QĐ-UBND ngày 13/12/2018 của UBND thành phố T về việc phê duyệt tiền bồi thường, hỗ trợ của ông Vương Đình C. Dự án: Đường vành đai thành phố T và cầu bắc qua sông V (Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư các đoạn còn lại thuộc địa bàn thành phố T) Đoạn từ nút giao ĐT 827A (đường N nối dài) đến km17+500 (Km14+500-Km17+500). Địa điểm: Tại xã B, thành phố T.
  • Hủy một phần Quyết định số 4307/QĐ-UBND ngày 20/11/2019 của UBND tỉnh L về việc giải quyết khiếu nại (lần 2) của ông Vương Đình C; ngụ số 162/25/5 TTN H, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

2/. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Vương Đình C đối với các yêu cầu:

  • Hủy Quyết định số 2035/QĐ-UBND ngày 07/7/2022 của Chủ tịch UBND thành phố T về việc cưỡng chế thu hồi đất.
  • Yêu cầu UBND thành phố T ban hành các quyết định thu hồi đất, tách phần làm đường (phạm vi tối đa là 33 m) và phần đất 20m tiếp theo sau phạm vi 33m để thực hiện bán đấu giá.

3/. Án phí hành chính sơ thẩm: Ông Vương Đình C phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng); được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí ông C đã nộp theo biên lai số 0001594 ngày 04/01/2023 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Long An vào phần án phí phải chịu.

Chủ tịch UBND thành phố T, UBND thành phố T và Chủ tịch UBND tỉnh L không phải nộp án phí hành chính sơ thẩm.

4/. Án phí hành chính phúc thẩm: Ông Vương Đình C phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng); được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí ông C đã nộp theo biên lai số 0000265 ngày 21/5/2024 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Long An vào phần án phí phải chịu.

5/. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao (1);
  • - VKSND cấp cao tại TP. HCM (1);
  • - TAND tỉnh Long An (1);
  • - VKSND tỉnh Long An (1);
  • - Cục THADS tỉnh Long An (1);
  • - Đương sự (4);
  • - Lưu VP (5), HS (2).16b.NTT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thanh Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1108/2024/HC-PT ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính và hành vi hành chính

  • Số bản án: 1108/2024/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính và hành vi hành chính
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Vương Đình C kiện Ủy ban nhân dân thành phố TA, tỉnh Long An yêu cầu: - Hủy Quyết định số 5265/QĐ-UBND ngày 10/12/2018 về việc thu hồi đất của ông Vương Đình C. Dự án: Đường vành đai thành phố T và cầu bắc qua sông V (Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư các đoạn còn lại thuộc địa bàn thành phố T) Đoạn từ nút giao ĐT 827A (đường N nối dài) đến km17+500 (Km14+500-Km17+500). Địa điểm: Tại xã B, thành phố T. - Hủy một phần Quyết định số 5277/QĐ-UBND ngày 10/12/2018 về việc thu hồi đất của ông Vương Đình C. Dự án: Đường vành đai thành phố T và cầu bắc qua sông V (Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư các đoạn còn lại thuộc địa bàn thành phố T) Đoạn từ nút giao ĐT 827A (đường N nối dài) đến km17+500 (Km14+500-Km17+500). Địa điểm: Tại xã B, thành phố T. - Hủy Quyết định số 5857/QĐ-UBND ngày 13/12/2018 của UBND thành phố T về việc phê duyệt tiền bồi thường, hỗ trợ của ông Vương Đình C. Dự án: Đường vành đai thành phố T và cầu bắc qua sông V (Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư các đoạn còn lại thuộc địa bàn thành phố T) Đoạn từ nút giao ĐT 827A (đường N nối dài) đến km17+500 (Km14+500-Km17+500). Địa điểm: Tại xã B, thành phố T. - Hủy một phần Quyết định số 4307/QĐ-UBND ngày 20/11/2019 của UBND tỉnh L về việc giải quyết khiếu nại (lần 2) của ông Vương Đình C; ngụ số 162/25/5 TTN H, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. - Hủy Quyết định số 2035/QĐ-UBND ngày 07/7/2022 của Chủ tịch UBND thành phố T về việc cưỡng chế thu hồi đất. - Yêu cầu UBND thành phố T ban hành các quyết định thu hồi đất, tách phần làm đường (phạm vi tối đa là 33 m) và phần đất 20m tiếp theo sau phạm vi 33m để thực hiện bán đấu giá.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger