|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 1107/2024/HS-PT Ngày: 28-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Tuấn Vinh
Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Đạt
Bà Nguyễn Thị Thúy Hòa
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Nhi – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Lượng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28/11/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 870/2024/TLPT- HS ngày 25 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo Trần Xuân H do có kháng cáo của bà Trần Thị Bích D đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 95/2024/HS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo:
Trần Xuân H, sinh năm 1954, tại N - Thanh Hóa.
Nơi ĐKTT: Tổ 8, ấp B, xã B, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Xuân C và bà Lê Thị H1, vợ: Nguyễn Thị Q, có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1983, nhỏ nhất sinh năm 1988; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 17/9/2010 bị Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo bị bắt tạm giam 10/01/2022. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh K.
- Bị hại:
- Bà Trần Thị Bích D, sinh năm 1962
Địa chỉ: Số C B, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị Bích D là: Bà Vũ Diệu H2, sinh năm 1958;
Địa chỉ: Số E đường Đ, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
- Bà Phạm Thị Y, sinh năm 1984;
Địa chỉ: Số C khu phố T, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1956;
Địa chỉ: Tổ H, ấp B, xã B, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
- Ông Phùng Thanh T, sinh năm 1962;
Địa chỉ: Số B N, khu phố E, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
- Ông Trần Hoàng T1, sinh năm 1971;
Địa chỉ: Số A N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng năm 2014 – 2015, Trần Xuân H trực tiếp viết nội dung cần xác nhận, tự viết, ký tên Nguyễn Thị Q và Trần Xuân H trên 02 giấy xin xác nhận nguồn gốc đất nhưng ghi lùi ngày vào năm 2000 gồm: “Giấy xin xác nhận nguồn gốc đất đề ngày 25/3/2000 mang tên Nguyễn Thị Q” của thửa đất có diện tích 120.000m² và “Giấy xin xác nhận nguồn gốc đất đề ngày 10/10/2000 mang tên Trần Xuân H” của thửa đất có diện tích 60.000m², cả 02 thửa đất đều ở ấp B, xã B, huyện P (nay là thành phố P), tỉnh Kiên Giang. Đồng thời, bị can H tự ghi nội dung xác nhận và giả mạo chữ ký, chữ viết của ông Lê Văn N – nguyên Trưởng ấp B để ký vào 02 giấy xin xác nhận nguồn gốc đất này. Đến năm 2017, bị can H đã đưa 02 giấy xin xác nhận nguồn gốc đất này cho ông Huỳnh Văn K – nguyên Phó Chủ tịch UBND xã B, nguyên Phó Bí thư đảng ủy xã B nhờ ông K đưa người ký, đóng dấu xác nhận của UBND xã B. Sau khi nhận 02 giấy xin xác nhận nguồn gốc đất này, ông K tự ghi nội dung xác nhận, địa danh, ngày tháng năm lên 02 giấy xin xác nhận nguồn gốc đất này rồi đưa cho ông Lê Quốc D1 – nguyên Chủ tịch UBND xã B (nhiệm kỳ 1999 – 2004) ký dưới nội dung xác nhận; sau đó ông K đưa cho Huỳnh Thanh G là cán bộ công chức văn hóa xã hội xã B (giai đoạn năm 2017) đóng dấu chức vụ “Chủ tịch”, dấu tròn của UNBD xã B. Sau đó, ông K nhận 02 giấy xin xác nhận nguồn gốc đất đã được
ký, xác nhận, đóng dấu này đưa lại cho bị can H. Khi nhờ ông K trình ký xác nhận thì bị can H không có cho tiền hoặc hứa hẹn sẽ cho tiền hay vật chất gì (ông K khai ông H có hứa cho ông K 1/3 diện tích hoặc giá trị thửa đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và 01 nền nhà diện tích 100m²). Tuy nhiên, khi xác nhận xong, ông K yêu cầu bị can H đưa số tiền là 600.000.000 đồng (ông K khai chỉ nhận 80.000.000 đồng). Trần Xuân H làm 02 giấy xin xác nhận nguồn gốc đất này mục đích là để hợp thức hóa giấy tờ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc nếu sau này có bị Nhà nước hay dự án nào đó thu hồi thì H sẽ được nhận tiền đền bù.
Tuy nhiên, đến ngày 20/8/2019, bị can Trần Xuân H ký “Hợp đồng sang nhượng giấy tờ nguồn gốc đất và hoa màu công sức lao động trên đất” để chuyển nhượng toàn bộ quyền lợi trên 02 thửa đất có tổng diện tích 180.000m² tại ấp B, xã B, huyện P (nay là thành phố P), tỉnh Kiên Giang gồm: Thửa đất diện tích 120.000m² có “Giấy xin xác nhận nguồn gốc đất đề ngày 25/3/2000 mang tên Nguyễn Thị Q” và thửa đất diện tích 60.000m² có “Giấy xin xác nhận nguồn gốc đất đề ngày 10/10/2000 mang tên Trần Xuân H”; ông H đã tự ký, viết tên Trần Xuân H và Nguyễn Thị Q ở phần bên bán (Bút Lục 556, 547, 507, 508). Nội dung là bán hoa màu và công khai phá, phát dọn và nguồn gốc đất với phương pháp bán buông đuôi cho bà Trần Thị Bích D với giá 10.200.000.000 đồng (Mười tỷ hai trăm triệu đồng). Ngay sau khi ký hợp đồng, bà D đặt cọc cho bị can H số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng).
Ngày 12/9/2019, được Nguyễn Văn K1 môi giới, bà D ký “Hợp đồng mua bán đất và tài sản gắn liền trên đất” với bà Phạm Thị Y để chuyển nhượng lại 02 thửa đất này cho bà Y với giá 18.900.000.000 đồng (Mười tám tỷ chín trăm triệu đồng), hợp đồng này có vợ chồng bị can Trần Xuân H, Nguyễn Thị Q ký xác nhận với vai trò là chủ đất. Ngay sau khi ký hợp đồng, bà Y đưa tiền cho K1 giao tiền đặt cọc cho bà Duyên số tiền là 4.170.000.000 đồng (Bốn tỷ một trăm bảy mươi triệu đồng), gồm: Ngày 12/9/2019 giao số tiền 2.200.000.000 đồng, ngày 13/9/2019 giao số tiền 1.470.000.000 đồng, ngày 14/9/2019 giao số tiền 500.000.000 đồng. Ngoài ra, trước đó vào ngày 20/8/2019, bà Y trực tiếp chuyển vào tài khoản của bà Duyên số tiền 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng) và đưa tiền mặt cho bà Duyên S tiền là 50.000.000 đồng để đặt cọc tiền mua 02 thửa đất này. Tổng cộng bà Y đưa tiền đặt cọc cho bà Duyên số tiền là 6.220.000.000 đồng (Sáu tỷ hai trăm hai mươi triệu đồng). Sau đó, bà D đưa thêm cho bị can H số tiền là 1.800.000.000 đồng (Một tỷ tám trăm triệu đồng) để thanh toán tiền ký hợp đồng chuyển nhượng như đã nói, gồm: Ngày 12/9/2019 đưa số tiền 1.100.000.000 đồng, ngày 13/9/2019 đưa số tiền là 700.000.000 đồng. Ngoài ra, theo thỏa thuận trong “Hợp đồng mua bán đất và tài sản gắn liền trên đất” thì giữa ông H, bà D và bà Y có thỏa thuận với nhau hùn tiền 1.000.000.000 đồng/người x 3 người = 3.000.000.000 đồng (Ba tỷ đồng) để mua đất làm đường vào thửa đất 180.000m² này, do đó ngày 13/9/2019, bà D đã đưa thêm cho bị can H số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng). Đến ngày 07/10/2019, vợ chồng bị can H, Q ký “Giấy ủy quyền”
cho bà Y để thay mặt liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để đo vẽ, cấm móc ranh giới, nộp hồ sơ xin đăng ký xét duyệt cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hoàn tất các thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giải quyết các vấn đề có liên quan đến thửa đất có diện tích 180.000m² có 02 giấy xin xác nhận nguồn gốc đất như đã nói trên. Cùng ngày, theo yêu cầu của bà D, bà Y đã chuyển vào tài khoản của bị can H số tiền 6.000.000.000 đồng (Sáu tỷ đồng). Đến ngày 11/10/2019, bị can H giao “Giấy xin xác nhận nguồn gốc đất đề ngày 25/3/2000 mang tên Nguyễn Thị Q” và “Giấy xin xác nhận nguồn gốc đất đề ngày 10/10/2000 mang tên Trần Xuân H” cho bà D, sau đó bà D đã giao lại cho bà Y.
Trong khoảng thời gian này, bà Y thuê Trần Hoàng C1 tiến hành đo đạc, lập sơ đồ địa chính và thuê người vào cải tạo đất thì xảy ra tranh chấp với các hộ dân xung quanh khu đất, bà Y yêu cầu bà D và bị can H giải quyết. Lúc này, bà D đã nhờ Nguyễn Chu S1 giới thiệu thuê Công ty TNHH MTV D3 – Văn phòng đại diện Phú Q1 đứng ra bảo vệ đất với số tiền thỏa thuận miệng là 1.500.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm triệu đồng), lúc này S1 đang làm thư ký và tham mưu cho Ban giám đốc của Công ty. Sau khi ký hợp đồng, bà D đã yêu cầu bà Y chuyển cho ông S1 số tiền 1.600.000.000 đồng (Một tỷ sáu trăm triệu đồng) để thanh toán tiền bảo vệ. Sau đó, bà D đã mượn lại của ông S1 số tiền 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng). Như vậy từ khi ký “Hợp đồng mua bán đất và tài sản gắn liền trên đất” với bà D để nhận chuyển nhượng 02 thửa đất có tổng diện 180.000m² như đã nói trên cho đến nay bà Y đã thanh toán tiền mua đất cho bà D tổng cộng số tiền là 13.820.000.000 đồng (Mười ba tỷ tám trăm hai mươi triệu đồng). Trong đó: Chuyển trực tiếp cho bà D tổng cộng số tiền là 6.220.000.000 đồng (Sáu tỷ hai trăm hai mươi triệu đồng), chuyển cho bị can H theo yêu cầu của bà Duyên số tiền là 6.000.000.000 đồng (Sáu tỷ đồng), chuyển cho ông S1 theo yêu cầu của bà Duyên số tiền là 1.600.000.000 đồng (Một tỷ sáu trăm triệu đồng). Bà D đã thanh toán tiền nhận chuyển nhượng theo hợp đồng đã ký cho bị can H số tiền là 8.800.000.000 đồng (Tám tỷ tám trăm triệu đồng). Trong đó, bà D trực tiếp thanh toán số tiền là 2.800.000.000 đồng (Hai tỷ tám trăm triệu đồng) và yêu cầu bà Y thanh toán số tiền là 6.000.000.000 đồng (Sáu tỷ đồng).
Sau đó, bà Y tiếp tục kêu người vào cải tạo đất thì bị nhân viên của Vườn quốc gia P đến ngăn cản, bà Y mang 02 “Giấy xin xác nhận nguồn gốc đất” đến liên hệ với Cơ quan chức năng để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phát hiện 02 giấy xin xác nhận nguồn gốc đất này không hợp pháp, giả mạo về mặt thời gian nên báo cho bà D biết. Sau khi được bà Y thông báo, bà D đã làm đơn tố giác gửi Cơ quan điều tra Công an tỉnh K để điều tra làm rõ hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đối với bị can H. Sau đó, bà Y cũng gửi đơn tố cáo đến Cơ điều quan tra Công an tỉnh K yêu cầu điều tra làm rõ hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đối với bị can H, bà Q và bà D. Ngày 04/01/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra điều tra Công an tỉnh K đã khởi tố vụ án “Lừa đảo chiếm đoạt
tài sản”, khởi tố bị can và bắt tạm giam đối với Trần Xuân H về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” cho đến nay.
Như vậy, từ việc ký “Hợp đồng sang nhượng nguồn gốc đất và hoa màu công sức lao động trên đất” với bà D, ký vào “Hợp đồng mua bán đất và tài sản gắn liền trên đất” giữa bà D với bà Y với vai trò là chủ đất và ký “Giấy ủy quyền” cho bà Y, cho đến nay bị can H nhận được tổng số tiền là 8.800.000.000 đồng (Tám tỷ tám trăm triệu đồng). Số tiền này, bị can H cho vợ là bà Q số tiền 1.700.000.000 đồng (Một tỷ bảy trăm triệu đồng), nhưng bà Q khai nhận 1.500.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm triệu đồng); cho 03 người con gồm: Trần Xuân Vũ H3, Trần Hoài Phương T2, Trần Hoài P Liên mỗi người 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) nhưng các con không thừa nhận; cho ông Trầm Hoàng T3 mượn 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng), đến nay ông T3 đã gửi Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang trả; giao cho Nguyễn Văn K1 theo yêu cầu của bà Duyên số tiền 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng) nhưng bà D không thừa nhận; mua thửa đất trên đường Q của bà Lâm Thị Trần H4 số tiền 2.820.000.000 đồng (Hai tỷ tám trăm hai mươi triệu đồng). Thửa đất này, bị can H khai nhận đã bán lại cho con ruột tên Trần Hoài Phương T2 với số tiền 1.700.000.000 đồng (Một tỷ bảy trăm triệu đồng) nhưng ký hợp đồng cho tặng vào ngày 06/7/2020 để trốn thuế, ngày 02/3/2022, bà T2 đã chuyển nhượng lại cho bà Trần Thị Mỹ D2 với giá 1.000.000.000 đồng; chuyển cho ông Phùng Thanh T mượn số tiền 1.200.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm triệu đồng). Số tiền còn lại bị can H tiêu xài cá nhân hết.
* Tại công văn số: 30/UBND-NCKT ngày 14/6/2021 của UBND xã B về việc phúc đáp công văn số 47/YC-CSHS ngày 22/3/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra trả lời kết quả như sau: Vào năm 1998 và năm 1999 bà Nguyễn Thị Q, ông Trần Xuân H không có khai khẩn thửa đất diện tích 120.000m² và thửa đất diện tích 60.000m²; Bà Nguyễn Thị Q, ông Trần Xuân H không có đến UBND xã B xin xác nhận nguồn gốc đất; Ông Lê Quốc D1 có thời gian công tác và giữ chức vụ Chủ tịch UBND xã Bãi Thơm từ tháng 12/1999 đến tháng 06/2004. Đến tháng 07/2004 thì chuyển về làm cán bộ xã C, thành phố P. Đối với ông Lương Văn N1 có công tác tại BND ấp Bãi Thơm thuộc UBND xã B, nhưng không có lưu Quyết định nên không xác định được thời gian công tác; Hiện trạng 02 thửa đất này nằm trong ranh giới rừng thuộc Vườn Quốc gia P quản lý theo Quyết định số 48/2002/QĐ-UB ngày 08/7/2002 của UBND tỉnh K về việc thành lập Vườn Quốc gia P (Bút lục 168).
* Tại công văn số: 354/VQG-DLST&CHSV ngày 13/7/2021 về việc kiểm tra, xác định vị trí thửa đất theo Tờ trích đo địa chính số TĐ – 2019, địa điểm ấp B thì thửa đất có diện tích 180,727,2m như sau: Căn cứ Quyết định số 91/2001/QĐ-TTg ngày 08/06/2001 của Thủ tướng chính phủ và Quyết định số 48/2002/QĐ-UBND ngày 08/7/2002 của UBND tỉnh K về việc thành lập Vườn quốc gia P theo ranh giới, toạ độ mốc Vườn quốc gia cắm mốc thực địa năm 2004 thì: diện tích 4.011m² không thuộc Vườn quốc gia quản lý, còn lại diện
tích 176.171,2m² thuộc Vườn quốc gia quản lý; Căn cứ Quyết định số 633/QĐ-TTg ngày 11/5/2010 của Thủ tướng chính phủ thì toàn bộ diện tích 180,727,2m² được điều chỉnh nằm ngoài Vườn quốc gia. Trong đó: Diện tích khoảng 144.669,2m² nằm trong dự án Đ đã được UBND tỉnh K thu hồi đất của Vườn quốc gia P giao cho Ban Q2 để quản lý, thực hiện chức năng theo quy định tại Quyết định số 1815/QĐ-UBND ngày 23/8/2012 (Bút lục 173).
* Tại công văn số: 1754/BQLKKTPQ-ĐĐ&XD ngày 09/12/2022 của Ban Q2 về việc phúc đáp Công văn số 408/CSHS, ngày 24/11/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K như sau: Toàn bộ diện tích 180.727,2 m² được điều chỉnh nằm ngoài quy hoạch Vườn Quốc gia. Trong đó: Diện tích khoảng 144.669,2 m² nằm trong dự án Đ, Sở T4 tham mưu UBND tỉnh ban hành Quyết định số 1815/QĐ-UBND, ngày 23/8/2012 về việc thu hồi đất và giao cho Ban Q2 (nay là Ban Q2) khu đất tại xã B, huyện P (nay là thành Phố P), tỉnh Kiên Giang để quản lý thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định; Diện tích thu hồi là 881.069,2 m² đất do Vườn Quốc G1 Quản lý.
Trên cơ sở Quyết định số 2394/QĐ-UBND, ngày 06/10/2008 của UBND tỉnh K ban hành quy chế phối hợp giữa Ban Quản lý với các cơ quan, ban, ngành cấp tỉnh và cơ quan, ban, ngành cấp huyện. Theo đó, dự án Đ được UBND thành phố P thực hiện xong việc lập, phê duyệt phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng và đã chi trả bồi thường cho các hộ dân... Nhưng đối với tiền hỗ trợ 03 lần chưa chi trả xong cho tổ chức và các hộ dân có đất bị thu hồi. Do đó, đến nay UBND thành phố P chưa bàn giao diện tích đất đã bồi thường, giải phóng mặt bằng của Dự án tại xã B, thành phố P, tỉnh Kiên Giang cho Ban Q2 để thực hiện việc giao lại đất, cho thuê đất để Nhà đầu tư triển khai dự án theo quy hoạch đã được duyệt (Bút lục 176).
* Tại công văn số 13/VQG-DLST&CHSV, ngày 17/01/2023 của Vườn quốc gia P1 về việc phúc đáp Công văn số 968/CSHS, ngày 29/12/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K như sau: Theo quy hoạch tại Quyết định số 633/QĐ-TTg, ngày 11/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ thì diện tích nêu trên không thuộc quy hoạch Vườn quốc gia P1 và hiện nay theo Quyết định số 794/QĐ-UBND, ngày 25/3/2022 của UBND tỉnh K về việc giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Vườn quốc gia P thì diện tích 180.727,2m² nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD 337138 của Vườn Quốc gia P trên địa bàn xã B. Trong đó:
- Diện tích 144.669,2m² nằm trong Dự án Đại Cát Hoàng Long đã được UBND tỉnh K thu hồi giao cho Ban Q2 (nay là Ban Q2) để quản lý, thực hiện chức năng theo quy định tại Quyết định số 1815/QĐ-UBND ngày 22/8/2012.
- Diện tích 36.058m² thuộc đất nhà nước quản lý. Thực hiện ý kiến kết luận của Chủ tịch UBND tỉnh tại Thông báo số 830/TB-VP, ngày 21/9/2022 của Văn
phòng UBND tỉnh, Vườn quốc gia P đã bàn giao diện tích đất 36.058m² cho UBND xã B quản lý, xử lý theo quy định pháp luật (Bút lục 571).
* Tại công văn số 07/CV-UBND, ngày 17/02/2023 của Ủy ban nhân dân xã B về việc phúc đáp công văn số 158/CSHS ngày 07/02/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K như sau: Thửa đất có diện tích 36.058m² mà Vườn quốc gia P1 đã bàn giao cho UBND xã B theo Thông báo số 830/TB-VP ngày 21/9/2022 của Văn phòng UBND tỉnh hiện nay do UBND xã B quản lý đất (Bút lục 581).
* Tại Kết luận giám định số: 1039/KL-KTHS ngày 22/12/2020 của phòng K2 Công an tỉnh K kết luận đối với đối tượng giám định như sau:
- Chữ ký mang tên Lê Quốc D1, dưới mục: “Chủ tịch” trên mẫu cần giám định ký hiệu A1 và A2 so với chữ ký mang tên Lê Quốc D1 trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M7 do cùng một người ký ra.
- Hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: “U.B.N.D XÃ BÃI THƠM H.PHÚ QUỐC T.KIÊN GIANG”, dưới mục: “Chủ tịch” trên mẫu cần giám định ký hiệu A1 và A2 so với hình dấu tròn màu đỏ có nội dung “ U.B.N.D X. BÃI THƠM H.PHÚ QUỐC T.KIÊN GIANG” trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M7 không phải do cùng một con dấu đóng ra.
- Hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: “U.B.N.D XÃ BÃI THƠM H.PHÚ QUỐC T.KIÊN GIANG”, dưới mục: “Chủ tịch” trên mẫu cần giám định ký hiệu A1 và A2 so với hình dấu tròn màu đỏ có cùng nội dung trên mẫu so sánh ký hiệu M8 do cùng một con dấu đóng ra (Bút lục 120, 121).
* Tại Kết luận giám định số: 1098/KL-KTHS ngày 21/12/2021 của phòng K2 Công an tỉnh K kết luận đối với đối tượng giám định như sau:
- Chữ ký mang tên Lương Văn N1 và chữ viết ghi họ tên “Lương Văn N1”, ở cuối trang một trên mẫu cần giám định ký hiệu A1 và A2 so với chữ ký thực nghiệm và chữ viết thực nghiệm mang tên Lương Văn N1 do Trần Xuân H ký và viết trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M10 đến M19 do cùng một người ký và viết ra.
- Phần chữ viết “Xác nhận. Tôi là Lương Văn Nhung trưởng ấp xác nhận bà Q mua lại và phát dọn trồng mới như đơn là sự thật./. Bãi Thơm ngày 10/8/2000. Thay mặt ban ấp.” ở góc dưới bên trái trang một trên mẫu cần giám định ký hiệu A1 so với chữ viết mang tên Trần Xuân H trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M19 do cùng một người viết ra.
- Phần chữ viết “Xác nhận. Tôi Lương Văn Nhung trưởng ấp xác nhận gia đình đ/s có khai hoang khu đất như đơn là sự thật./. Bãi Thơm ngày 16/10/2000. T/m Ban ấp.” ở góc dưới bên trái trang một trên mẫu cần giám định
ký hiệu A2 so với chữ viết mang tên Trần Xuân H trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M19 do cùng một người viết ra (Bút lục 101, 102)
* Vật chứng vụ án gồm: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone X, màu đen, số IMEI 35313 010120 7973 đã qua sử dụng.
* Về phần trách nhiệm dân sự:
Bà Phạm Thị Y yêu cầu bà Trần Thị Bích D phải bồi thường số tiền 10.270.000.000 đồng (Mười tỷ hai trăm bảy mươi triệu đồng) và tiền lãi suất ngân hàng trên tổng số tiền 13.820.000.000 đồng (Mười ba tỷ tám trăm hai mươi triệu đồng). Vì, bà Y khi ký “Hợp đồng mua bán đất và tài sản gắn liền trên đất” với bà D đã thanh toán cho bà Duyên số tiền là 13.820.000.000 đồng. Trong đó: Đưa trực tiếp cho bà D nhiều lần với tổng số tiền là 6.220.000.000 đồng (Sáu tỷ hai trăm hai mươi triệu đồng), chuyển khoản cho bị can Trần Xuân H theo yêu cầu của bà Duyên số tiền là 6.000.000.000 đồng (Sáu tỷ đồng), chuyển cho ông Nguyễn Chu S1 theo yêu cầu của bà Duyên số tiền là 1.600.000.000 đồng (Một tỷ sáu trăm triệu đồng). Đến nay đã nhận lại của bà Duyên số tiền là 3.550.000.000 đồng (Ba tỷ năm trăm năm mươi triệu đồng). Nhưng bà D không đồng ý trả.
Bà Trần Thị Bích D yêu cầu ông Trần Xuân H bồi thường số tiền 3.300.00.000 đồng (gồm 2.800.000.000 đồng (Hai tỷ tám trăm triệu đồng) tiền đặt cọc chuyển nhượng 02 thửa đất có diện tích 180.000m² và 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) tiền hùn để mua đất làm đường vào thửa đất 180.000m².
Tại bản Cáo trạng số: 17/CT – VKS – P2 ngày 28/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Trần Xuân H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bản án hình sự sơ thẩm số: 95/2024/HS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang đã tuyên xử:
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Xuân H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Áp dụng: Điểm a khoản 4 Điều 174, điểm s, o khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo Trần Xuân H – 14 (Mười bốn) năm tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/01/2022.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 589 Bộ luật dân sự.
- Buộc bị cáo Trần Xuân H phải trả lại cho bà Trần Thị Bích D 2.800.000.000 đồng (Hai tỷ tám trăm triệu đồng); trả lại cho bà Phạm Thị Y 6.000.000.000 đồng (Sáu tỷ đồng).
- Buộc bà Trần Thị Bích D phải trả lại cho bà Phạm Thị Y số tiền còn lại là 4.270.000.000 đồng (Bốn tỷ hai trăm bảy mươi triệu đồng).
- Buộc ông Phùng Thanh T phải nộp vào Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang số tiền 1.200.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm triệu đồng) để thi hành trong tổng số tiền mà bị cáo Trần Xuân H phải trả lại cho các bị hại.
- Buộc ông Trần Hoàng T1 phải nộp vào Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) để thi hành trong tổng số tiền mà bị cáo Trần Xuân H phải trả lại cho các bị hại. Ông T1 đã nộp đủ theo biên lai thu tiền số 0005543 ngày 11/5/2022 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo.
Ngày 29/8/2024, bị cáo - Trần Xuân H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt đến ngày 07/9/2024, bị cáo rút toàn bộ kháng cáo.
Ngày 28/8/2024, bị hại - bà Trần Thị Bích D kháng cáo về phần dân sự, đến ngày 18/11/2024 bị hại rút toàn bộ kháng cáo.
Ngày 20/11/2024, bị hại - bà Trần Thị Bích D có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, rút nội dung kháng cáo về phần dân sự và yêu cầu xem xét miễn án phí sơ thẩm do bà là người cao tuổi.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Trần Xuân H, đình chỉ nội dung kháng cáo của bị hại - bà D về phần dân sự; chấp nhận yêu cầu xem xét miễn nộp tiền án phí của bà D, sửa bản án sơ thẩm về án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự
tiến hành xét xử vắng mặt bị hại - bà Trần Thị Bích D.
[2] Xét thấy, việc rút kháng cáo của bị cáo Trần Xuân H và việc rút một phần kháng cáo của bị hại - bà Trần Thị Bích D là tự nguyện, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Đối với nội dung xin miễn án phí của bị hại - bà Trần Thị Bích D. Hội đồng xét xử xét thấy bị hại là người cao tuổi; tại phiên tòa phúc thẩm, bà D có đơn yêu cầu được miễn án phí, căn cứ quy định tại Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, bị hại - bà Trần Thị Bích D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, sửa bản án sơ thẩm về phần án phí dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 348, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Trần Xuân H và kháng cáo của bị hại - bà Trần Thị Bích D.
Chấp nhận kháng cáo của bị hại - bà Trần Thị Bích D, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 95/2024/HS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang về phần án phí dân sự sơ thẩm.
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Xuân H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Áp dụng: Điểm a khoản 4 Điều 174, điểm s, o khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo Trần Xuân H – 14 (Mười bốn) năm tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/01/2022.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 589 Bộ luật dân sự.
- Buộc bị cáo Trần Xuân H phải trả lại cho bà Trần Thị Bích D 2.800.000.000 đồng (Hai tỷ tám trăm triệu đồng); trả lại cho bà Phạm Thị Y 6.000.000.000 đồng (Sáu tỷ đồng).
- Buộc bà Trần Thị Bích D phải trả lại cho bà Phạm Thị Y số tiền còn lại là 4.270.000.000 đồng (Bốn tỷ hai trăm bảy mươi triệu đồng).
- Buộc ông Phùng Thanh T phải nộp vào Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang số tiền 1.200.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm triệu đồng) để thi hành trong tổng số tiền mà bị cáo Trần Xuân H phải trả lại cho các bị hại.
- Buộc ông Trần Hoàng T1 phải nộp vào Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) để thi hành trong tổng số tiền mà bị cáo Trần Xuân H phải trả lại cho các bị hại. Ông T1 đã nộp đủ theo biên lai thu tiền số 0005543 ngày 11/5/2022 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone X, màu đen, số IMEI 35313 010120 7973 đã qua sử dụng, được niêm phong trong bì thư có chữ ký của Trần Xuân H, theo Quyết định chuyển giao vật chứng số 10/QĐ-VKS-P2 ngày 28/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang và Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 01/3/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Án phí sơ thẩm:
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự giá ngạch là 116.800.000 đồng (Một trăm mười sáu triệu tám trăm nghìn đồng).
Bà Trần Thị Bích D được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Án phí phúc thẩm: Bà Trần Thị Bích D được miễn nộp.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Dương Tuấn Vinh |
Bản án số 1107/2024/HS-PT ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 1107/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sửa bản án sơ thẩm về án phí
