|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 1105/2024/HNGĐ-ST Ngày: 30/8/2024. V/v: Ly hôn. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hùng Vương.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Thái Văn Sơn.
2/ Ông Võ Văn Dương.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thanh Thi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh không tham gia phiên tòa.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 520/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn và tranh chấp đòi lại tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 422/2024/QĐST-HNGĐ ngày 31/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 455/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12/8/2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Huỳnh Văn V, sinh năm: 1976; (có mặt)
Căn cước công dân số: [...], cấp ngày: 12/01/2022.
Thường trú: Số B đường B, tổ H, ấp E, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
* Bị đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm: 1976; (có mặt)
Căn cước công dân số: [...], cấp ngày: 21/9/2022.
Địa chỉ: kế nhà số A đường T, tổ B, ấp A, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn xin ly hôn ngày 16/4/2024, các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Huỳnh Văn V trình bày:
Ông và bà Lê Thị T là vợ chồng, tự nguyện đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã H cấp giấy chứng nhận kết hôn số 55, ngày 18/9/2020. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân mâu thuẩn, là bà T bỏ đi và để lại cho ông một đứa con chung tên Huỳnh Thiên L, sinh ngày 10/4/2020 cho ông nuôi đến nay và không cấp dưỡng. Sau một thời gian bỏ đi, quay về chửi gia đình ông và thậm chí đe dọa gia đình ông. Nay, Ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Lê Thị T.
Về con chung: Có 01 con chung tên tên Huỳnh Thiên L, sinh ngày 10/4/2020. Ông yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung, ông không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nghĩa vụ dân sự chung: không có.
Các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình gồm: Đơn khởi kiện, bản sao Chứng minh nhân dân + hộ khẩu + giấy chứng nhận kết hôn + bản sao khai sinh con.
Trong quá trình giải quyết vụ kiện, bị đơn bà Lê Thị T trình bày:
Bà hoàn toàn không đồng ý ly hôn với chồng bà là anh Huỳnh Văn V. Bởi vì, bà chỉ tập trung đi làm để cho chồng con có cuộc sống đầy đủ và bà dùng tiền cá nhân của bà để sửa sang lại nhà cửa để vợ chồng cùng sống chung với nhau. Từ khi bà bị người khác đâm thì ông V bỏ bà không quan tâm, chăm sóc cho bà. Hiện tại bà phát hiện ông V có người phụ nữ khác bên ngoài và có một đứa con gái, ông V là người đã có vợ mà sống chung và có con với người phụ nữ khác là đã vi phạm chế độ một vợ một chồng. Ông V hoàn toàn là người có lỗi với vợ con, bà không có lỗi gì đối với chồng cũng như gia đình bên chồng; tiền bà làm được bao nhiêu thì bà chăm lo cho gia đình. Bà còn thương chồng, thương con nên bà muốn hai vợ chồng hàn gắn lại để cùng nhau chăm lo cho con chung tên Huỳnh Thiên L, sinh ngày 10/4/2020, để con bà có đầy đủ tình yêu thương, chăm sóc của ba và mẹ. Bà không đồng ý ly hôn với chồng tên là Huỳnh Văn V. Vì chồng bà là ông Huỳnh Văn V có yêu cầu nuôi con chung tên Huỳnh Thiên L sau ly hôn, bà cũng không đồng ý.
Trong biên bản hòa giải ngày 31/7/2024: Bà T cũng không đồng ý ly hôn với ông V; Về con chung: Có 01 con chung tên: Huỳnh Thiên L, sinh ngày: 10/4/2020. Bà yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung, bà không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có.
Nghĩa vụ dân sự chung: Không có.
Bà yêu cầu ông V trả lại cho bà số tiền 120.000.000 đồng mà bà đã bỏ vào sửa chữa nhà.
Ngày 12/7/2024, bà T có đơn yêu cầu phản tố, bà trình bày là trong thời gian chung sống với ông V, bà có bỏ ra số tiền là 120.000.000 đồng để sửa chữa căn nhà toạ lạc tại ấp E, xã H, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh, bà yêu cầu ông V phải trả cho bà số tiền này.
Các tài liệu, chứng cứ mà bị đơn cung cấp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình gồm: Bản tự khai, đơn khởi kiện.
Tại phiên tòa:
Ông V trình bày: Ông vẫn giữ nguyên yêu cầu theo đơn khởi kiện, không bổ sung, thay đổi gì. Ông không đồng ý yêu cầu của bà T về việc yêu cầu ông hoàn trả cho bà T số tiền 120.000.000 đồng bà T bỏ vào xây nhà.
Bà T trình bày: Bà không đồng ý ly hôn với ông V; Về con chung bà yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung, bà không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung: không có; Nợ chung: không có. Bà yêu cầu ông V trả cho bà số tiền 120.000.000 đồng mà bà đã bỏ vào xây nhà.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện có cơ sở xác định quan hệ pháp luật tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn có nơi cư trú tại xã H, huyện C nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về nội dung:
Quan hệ hôn nhân: Ông Huỳnh Văn V và bà Lê Thị T tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân dân xã H, huyện C cấp giấy chứng nhận kết hôn số 55 ngày 18/9/2020 nên là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu của ông V xin ly hôn với bà T là có căn cứ chấp nhận. Bởi lẽ: Theo lời trình bày của ông V thì mâu thuẩn giữa ông với bà T là trầm trọng và không thể hàn gắn. Cuộc sống vợ chồng của ông bà không hạnh phúc, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, bà T có người đàn ông khác; Bà T cũng xác định hai vợ chồng không sống chung đến nay hơn hai năm và ông V cũng đã có người đàn bà khác, bà không muốn ly hôn với ông V là để cho ông V suy nghĩ lại. Tuy bà T không đồng ý ly hôn nhưng hai vợ chồng hiện không còn qua lại, mạnh ai người nấy sống. Vì vậy, có cơ sở xác định tình cảm vợ chồng giữa ông V và bà T không còn, tình trạng hôn nhân mâu thuẩn trầm trọng, đời sống chung của hai người không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được theo quy định tại khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 57, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Ông Huỳnh Văn V và bà Lê Thị T có 01 con chung tên Huỳnh Thiên L, sinh ngày: 10/4/2020. Ông V và bà T đều yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Sau khi xem xét tất cả các chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến nội dung vụ án tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Trẻ Huỳnh Thiên L đã được ông V nuôi dưỡng đến nay hơn hai năm và hiện ông V chỉ có nuôi một mình trẻ L; Hoàn cảnh bà T không có nhà, phải ở nhà trọ, ngoài trẻ L bà T còn phải nuôi 03 con riêng, xét về điều kiện thì ông V có đủ điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung hơn bà T. Vì lợi ích của con, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao con chung là trẻ Huỳnh Thiên L cho ông V trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của ông V là không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Ông V và bà T cùng xác định tài sản chung không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét yêu cầu phản tố của T về việc bà T yêu cầu ông V trả lại cho bà số tiền 120.000.000 đồng mà bà đã bỏ vào sửa chữa nhà. Tại phiên tòa, bà T và ông V đều xác định nhà và đất đều là của mẹ ông V, bà T có bỏ tiền vào sửa chữa nhà nhưng theo ông V thì số tiền không có bao nhiêu và nhà đất đó là của mẹ ông V, hai vợ chồng không có ở đó, lúc trước hai vợ chồng ở nhà trọ, do bà T và mẹ ông bất đồng, bà T không chịu về làm dâu, sau này ông và bà T không sống chung nên ông về nhà mẹ ông ở ké, chứ nhà đất đó là của mẹ ông. Người được hưởng lợi là mẹ ông V, không phải ông V, do đó Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu phản tố của bà T về việc yêu cầu ông V trả lại cho bà số tiền 120.000.000 đồng mà bà đã bỏ vào sửa chữa nhà là không có cơ sở chấp nhận.
Nghĩa vụ dân sự chung: Ông V và bà T cùng xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Cần buộc ông V phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn là phù hợp; Bà T phải chịu án phí đối với yêu cầu khởi kiện của mình mà không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 91; các điều 227, 228, 264, 266, 267 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 1 Điều 56; khoản 1 Điều 57; Điều 58; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117, Điều 118 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014;
- Căn cứ Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban T1;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Huỳnh Văn V; Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Lê Thị T.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Huỳnh Văn V được ly hôn với bà Lê Thị T.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Huỳnh Thiên L, sinh ngày: 10/4/2020. Ông V được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Ghi nhận sự tự nguyện của ông V không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Nghĩa vụ dân sự chung: không có.
- Không chấp nhận yêu cầu của bà T về việc buộc ông Huỳnh Văn V trả cho bà Lê Thị T số tiền 120.000.000 đồng mà bà T đã bỏ vào xây nhà.
- Án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) buộc ông Huỳnh Văn V phải nộp nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0015158 ngày 03/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi; Ông V đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm; Án phí dân sự sơ thẩm bà T phải chịu là 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng), cấn trừ số tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp là 3.000.000₫ (Ba triệu đồng) theo biên lai số 0015720 ngày 12/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi. Sau khi cấn trừ, bà T còn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).
Giấy chứng nhận kết hôn số 55 ngày 18/9/2020 của Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông V và bà T không còn giá trị pháp lý.
Khi có lý do chính đáng việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi. Việc thay đổi cấp dưỡng nuôi con do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu bà T lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì ông V có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của bà T.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Khoản 5, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Phan Hùng Vương |
|
Nơi nhận:
- - TAND Tp. Hồ Chí Minh;
- - VKSND H. Củ Chi;
- - Chi cục THADS H. Củ Chi;
- - UBND xã nơi đăng ký kết hôn;
- - Các đương sự;
- - Lưu: Vp, hồ sơ (12b).
Bản án số 1105/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn và tranh chấp đòi lại tài sản
- Số bản án: 1105/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và tranh chấp đòi lại tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
