|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 1104/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 30-8-2024.
V/v Tranh chấp Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Thị Ngọc.
- Bà Nguyễn Phước Trinh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thành Công – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên tòa:
Không có.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 746/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 409/2024/QĐST-HNGĐ ngày 25/7/2024; Quyết định hoãn số: 472/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lương Thị T, sinh năm 1988 (Xin vắng mặt).
Địa chỉ thường trú: Khu B, phường H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.
Địa chỉ liên lạc: 230 phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
- Bị đơn: Ông Vũ Mạnh H, sinh năm 1980 (Vắng mặt).
Địa chỉ thường trú: Khu B, phường H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.
Địa chỉ tạm trú: Số A Đường D, Tổ F, ấp T (N), xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 11/6/2023 và các lời khai tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, nguyên đơn bà Lương Thị T trình bày:
Tôi và ông Vũ Mạnh H đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 22 ngày 23/02/2011 tại UBND xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương trên cơ sở tự nguyện.
Sau khi đăng ký kết hôn, chúng tôi chuyển về sinh sống hòa thuận, hạnh phúc cùng nhau. Tuy nhiên, khoảng đến năm 2016, vợ chồng tôi thường xuyên nảy sinh mâu thuẫn và cãi vã. Nguyên nhân do chúng tôi không có cùng quan điểm sống, hai vợ chồng không có tiếng nói chung. Ông H thường xuyên ham chơi, dùng những chất kích thích như ma tuý đá và có lần bị Công an tỉnh Q giam giữ. Tôi đã nhiều lần can ngăn, khuyên bảo nhưng ông vẫn không quan tâm. Hơn nữa, ông H còn là một người nóng tính và bạo lực, ông H thường xuyên đánh tôi, đe doạ sẽ giết tôi và hù doạ sẽ quậy phá nơi làm việc của tôi. Có lần ông H đánh tôi trước mặt đồng nghiệp tại nơi làm việc. Điều này làm tôi rất tổn thương, mệt mỏi và áp lực.
Tình trạng mâu thuẫn giữa vợ chồng tôi ngày càng trở nên căng thẳng, trầm trọng, đặc biệt là từ giữa năm 2018. Thời gian này, tuy chúng tôi vẫn chung sống dưới một mái nhà nhưng không còn nói chuyện và quan tâm lẫn nhau. Không khí trong gia đình rất ngột ngạt, căng thẳng và ảnh hưởng xấu đến các thành viên trong gia đình. Dù cho tôi đã nhiều lần cố gắng nói chuyện, hòa giải nhằm giải quyết bất đồng, mâu thuẫn, song vợ chồng tôi vẫn không thể hòa hợp với nhau. Do vậy, đến cuối năm 2018, tôi quyết định sống ly thân với ông H.
Đến nay, tôi nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống vợ chồng không thể tiếp tục. Vì vậy, tôi làm đơn này kính mong Quý Tòa xem xét, giải quyết cho tôi được ly hôn theo quy định pháp luật.
Về con chung: Tôi và ông H không có con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Tôi tự nguyện chịu toàn bộ.
* Bị đơn ông Vũ Mạnh H: Vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Quan hệ tranh chấp giữa bà Lương Thị T và ông Vũ Mạnh H là “Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình”. Bị đơn trong vụ án là ông Vũ Mạnh H cư trú tại huyện C, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Bị đơn ông Vũ Mạnh H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông H theo quy định của pháp luật.
[3] Về quan hệ hôn nhân:
Xét về quan hệ vợ chồng giữa bà Lương Thị T và ông Vũ Mạnh H có đăng ký kết hôn và được UBND xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương cấp Giấy chứng nhận kết hôn số: 22 ngày 23/02/2011, đây là hôn nhân hợp pháp.
Bà T trình bày sau khi đăng ký kết hôn, vợ chồng chuyển về sinh sống hòa thuận, hạnh phúc cùng nhau. Tuy nhiên, khoảng đến năm 2016, vợ chồng bà thường xuyên nảy sinh mâu thuẫn và cãi vã. Ông H còn là một người nóng tính và bạo lực, có lần ông H đánh bà trước mặt đồng nghiệp tại nơi làm việc. Điều này làm bà rất tổn thương, mệt mỏi và áp lực. Tình trạng mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trở nên căng thẳng, trầm trọng. Từ giữa năm 2018, tuy vẫn chung sống dưới một mái nhà nhưng không còn nói chuyện và quan tâm lẫn nhau. Dù cho đã nhiều lần cố gắng nói chuyện, hòa giải nhằm giải quyết bất đồng, mâu thuẫn, song vợ chồng vẫn không thể hòa hợp với nhau. Do vậy, đến cuối năm 2018, bà quyết định sống ly thân với ông H. Đến nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống vợ chồng không thể tiếp tục. Vì vậy, bà làm đơn này kính mong Tòa án xem xét, giải quyết cho bà được ly hôn theo quy định pháp luật.
Xét trong quá trình giải quyết vụ án ông Vũ Mạnh H không đến Tòa án để giải quyết và không có bất cứ tác động nào cho thấy muốn hàn gắn quan hệ gia đình với bà T nên Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu xin ly hôn với ông H của bà T là chính đáng. Căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T.
[4] Về con chung: Bà T xác định bà và ông H không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung: Bà T xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[6] Về nghĩa vụ dân sự chung: Bà T xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[7] Về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm: Án phí Hôn nhân sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) bà T tự nguyện chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56 và Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật Phí và lệ phí năm 2015 và Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
- Chấp nhận yêu cầu của bà Lương Thị T là được ly hôn với ông Vũ Mạnh H.
- Về con chung: Không có con chung.
- Tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) bà Lương Thị T tự nguyện chịu, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số: 0015585 ngày 27/6/2024 của Chi Cục thi hành án Dân sự huyện Củ Chi. Bà T đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Giấy chứng nhận kết hôn số: 22 ngày 23/02/2011 của UBND xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương cấp cho bà Lương Thị T và ông Vũ Mạnh H không còn giá trị pháp lý.
Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Hồng Ngọc |
Bản án số 1104/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 1104/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lương Thị T ly hôn Vũ Mạnh H
