|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 1103/2023/HNGĐ-PT Ngày: 29/11/2023 V/v "Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Anh
Các Thẩm phán: Ông Phan Trịnh Minh Đức
Bà Lưu Thị Thủy Tiên
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thư Thái Bình - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 72/2023/TLPT-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn”.
Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 728/2023/HNGĐ-ST ngày 29/5/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4930/2023/QĐPT-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: ELD DX_hoa Bà Lê Thị Ny sinh năm 1986
Thường trú: Nhà số 1167, đường Tỉnh Lộ 10, phường Tân Tạo, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh
Tạm trú: ấp Thông Lưu, xã Hòa Minh, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
Bị đơn: Ông Trương Hoài Bảo sinh năm 1982
Địa chỉ: Nhà số A, đường T, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh
- Người kháng cáo: Ông Trương Hoài B
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bà Lê Thị Ny và Ông Trương Hoài Bảo sống từ năm 2004, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận B, T chứng nhận kết hôn số 29 quyển số 1/2004 cấp ngày 23/03/2004
Bà N cho rằng cuộc sống vợ chồng chỉ hạnh phúc được một thời gian đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do bà và ông B không cùng quan điểm sống, ông B gia trưởng, không chăm lo cho cuộc sống chung, thường xuyên đánh đập, hành hạ bà, hai bên cũng đã cố gắng ngồi lại để tìm phương án giải quyết nhưng đến nay vẫn không có kết quả. Từ tháng 01/2022 bà cùng con là Trương Bảo Hoàng O đã phải về nhà cha mẹ ruột của bà tại ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh để sinh sống. Hiện tại đối với bà cuộc sống hôn nhân là một gánh nặng, bà không còn tình cảm với ông B. Do đó, bà N yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn.
Ông Trương Hoài B không đồng ý với yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà N vì ông muốn con cái có đầy đủ cha mẹ, ông vẫn còn tình cảm với bà N nên mong muốn hòa giải đoàn tụ.
Về con chung bà N và ông B đều xác nhận có 02 con chung là Trương Trí D, sinh ngày 12/7/2004 và Trương Bảo Hoàng O, sinh ngày 08/7/2006. Đối với Trương Trí D đã trưởng thành và có công việc riêng có khả năng nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với Trương Bảo Hoàng O bà N, ông B đều yêu cầu bản thân được trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu bên còn lại thực hiện việc cấp dưỡng nuôi con.
Tại phiên Tòa, ông B yêu cầu Tòa án hạn chế quyền nuôi con của bà N do bà N làm ảnh hưởng xấu đến tâm lý của trẻ O và cấm cản việc thăm con của ông.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà N xác nhận tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông B xác định nợ chung cụ thể như sau: nợ bà Trương Thị Kim N1 số tiền 201.240.000 đồng, nợ Ngân hàng Q (V) số tiền 361.240.000 đồng là tiền vay để mua ô tô biển kiểm soát 51H-133.11, nhưng ông B chỉ nêu lên để cho bà N có trách nhiệm chung với gia đình chứ không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề tài sản chung, nợ chung.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm 728/2023/HNGĐ-ST ngày 29/5/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, đã quyết định:
“ ... Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
1.1. Về hôn nhân: D DX_hoa Bà Lê Thị Ny được ly hôn với ông Trương Hoài Bảo
Giấy chứng nhận kết hôn số 29 quyển số 1/2004 do Ủy ban nhân dân UBND phường T, quận B, Thành phố H 23/03/2004 không còn giá trị pháp lý kể từ thời điểm bản án có hiệu lực pháp luật.
1.2. Về con chung:
- - Bà Lê Thị Ny và Ông Trương Hoài B1 nhất có 02 (hai) con chung là Trương Trí D, sinh ngày 12/7/2004 (nam) và Trương Bảo Hoàng O, sinh ngày 08/7/2006 (nữ).
- - Đối với Trương Trí D đã trưởng thành và có khả năng lao động nên các bên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
- - Đối với Trương Bảo Hoàng O giao cho bà Lê Thị N2 được trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Ghi nhận việc bà N2 không yêu cầu ông Trương Hoài B thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
1.3. Về tài sản chung, nợ chung: các bên cùng thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết."
Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền và thời hạn kháng cáo.
Ngày 02/6/2023, ông B kháng cáo yêu cầu sửa án sơ thẩm theo hướng cho gia đình đoàn tụ và không đồng ý giao con chung cho nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
* Ông Trương Hoài B trình bày:
Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
* Bà Lê Thị N2 trình bày:
Yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thời hạn kháng cáo: Ông B kháng cáo đúng thời hạn luật định.
Về nội dung kháng cáo: Đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trương Hoài B, giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 728/2023/HNGĐ-ST ngày 29/5/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Đơn kháng cáo của ông Trương Hoài B làm trong thời hạn luật định nên được chấp nhận.
- [2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn – ông Trương Hoài B về việc xin được đoàn tụ và không đồng ý giao con chung cho nguyên đơn:
- 2.1 Về hôn nhân : Ông Trương Hoài B đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì ông cho rằng bà N2 không chăm lo cho cuộc sống chung, có quan hệ bất chính với người đàn ông khác, bà N2 đã tự ý bỏ về nhà bố mẹ đẻ mà không thông báo cho ông được biết; ông xác định còn thương vợ, muốn con cái trưởng thành có đầy đủ tình thương của cha mẹ và ông sẵn sàng tha thứ mọi lỗi lầm của bà N2 để vợ chồng tiếp tục sống chung; về phía bà N2 vẫn kiên quyết xin ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định quan hệ hôn nhân của ông B và bà N2 đến nay đã không có sự quan tâm, chia sẻ lẫn nhau, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cả hai không còn thực tế sống chung. Về phần ông B mong muốn được đoàn tụ với bà N2, không đồng ý ly hôn nhưng không đưa ra giải pháp gì để khắc phục nguyên nhân mâu thuẫn cũng như hàn gắn tình cảm vợ chồng. Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa sơ thẩm chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có căn cứ.
- 2.2 Về con chung: Tại phiên tòa phúc thẩm ông B yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Trương Bảo Hoàng O với lý do trẻ O không được bà N2 cho đi học. Xét thấy ông B và bà N2 đều có đầy đủ khả năng về vật chất và tinh thần để nuôi dạy trẻ O tốt như nhau. Tuy nhiên trẻ O là bé gái gần 17 tuổi rưỡi, có nguyện vọng được sống cùng mẹ, do đó để ổn định cuộc sống cũng như tâm sinh lý của trẻ nghĩ cần tiếp tục giao trẻ cho bà N2 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.
- 2.3 Về cấp dưỡng: Bà N2 không yêu cầu ông B phải cấp dưỡng nuôi con.
- 2.4 Về tài sản chung, nợ chung: Các bên cùng thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của ông Trương Hoài B, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
VÌ CÁC LẼ TRÊN,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 728/2023/HNGĐ-ST ngày 29/5/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- 1.1. Về hôn nhân: Bà Lê Thị Ny được ly hôn với ông Trương Hoài Bảo
Giấy chứng nhận kết hôn số 29 quyển số 1/2004 do Ủy ban nhân dân phường T, quận B, Thành phố H 23/03/2004 không còn giá trị pháp lý kể từ thời điểm bản án có hiệu lực pháp luật.
- 1.2. Về con chung:
Bà Lê Thị Ny và Ông Trương Hoài B1 nhất có 02 (hai) con chung là Trương Trí D, sinh ngày 12/7/2004 (nam, đã trưởng thành) và Trương Bảo Hoàng O, sinh ngày 08/7/2006 (nữ).
Giao con chung tên Trương Bảo Hoàng O, sinh ngày 08/7/2006 (nữ) cho bà Lê Thị N2 trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.
- 1.3 Về cấp dưỡng: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng cho ông B do bà N2 không có yêu cầu.
Ông Trương Hoài Bảo có quyền và nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở.
Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con chung, sau này bà N2, ông B đều có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.
- 1.4. Về tài sản chung, nợ chung: các bên cùng thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- 1.1. Về hôn nhân: Bà Lê Thị Ny được ly hôn với ông Trương Hoài Bảo
- 2. Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị Ny chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn được cấn trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí bà Lê Thị N3 đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2022/0011022 ngày 27 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân. Bà Lê Thị Ny đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trương Hoài B phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2022/0011552 ngày 15/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Trương Hoài B đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- 3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoàng Anh |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
||
|
Nguyễn Hoàng Anh |
Bản án số 1103/2023/HNGĐ-PT ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 1103/2023/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho LH
