Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/2024/HS-ST

Ngày 31-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Thanh Quyên

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Văn Bảng
  2. Ông Nguyễn Văn Môn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 31/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 95/2024/HSST ngày 10/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2024/QĐXXST – HS ngày 16/5/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn D, sinh năm 1994; Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công nhân. Văn hóa 9/12; Bố: Nguyễn Đức A, sinh năm 1958; Mẹ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1957; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là thứ 2; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại và có mặt tại phiên toà.

* Bị hại: Ông Nguyễn Vinh A1, sinh năm 1937

Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

* Đại diện hợp pháp cho ông Nguyễn Vinh A1:

Ông Nguyễn Đức N, sinh năm 1963 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1985 (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Buổi sáng ngày 23/10/2023, Nguyễn Văn D, sinh năm 1994 trú tại thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển số 98B3 – 585.50 kèm chị gái là Nguyễn Thị H1, sinh năm 1985 đi từ nhà đến Công an tỉnh B để làm hộ chiếu cho chị H1. Sau khi làm hộ chiếu xong, D điều khiển xe mô tô chở chị H1 đi về theo đường N về hướng xã T, thành phố B. Khoảng gần 10 giờ cùng ngày khi đi đến ngã tư giao nhau đường N - đường T thuộc địa phận thôn A, xã T, thành phố B, D đi trên làn đường thứ 2 đường N (từ bên trái sang) theo chiều đi thì thấy đèn tín hiệu giao thông tại ngã tư đang chuẩn bị chuyển sang đèn vàng. Do không muốn dừng đèn đỏ nên D tiếp tục điều khiển xe đi thẳng để qua ngã tư. Cùng lúc này, ông Nguyễn Vinh A1, sinh năm 1937, trú tại thôn T, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang điều khiển xe đạp điện nhãn hiệu Seeyes đang đi cùng chiều phía trước trên làn đường thứ 3 từ bên trái chuyển hướng rẽ trái vào đường T nhưng không làm tín hiệu báo rẽ. Do không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ và do khoảng cách gần nên xe mô tô do D điều khiển đã va chạm với xe đạp điện do ông A1 điều khiển. Hậu quả làm 2 phương tiện bị đổ xuống đường, ông Nguyễn Vinh A1 bị ngã xuống đường và bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh B. Kết quả đo nồng độ cồn trong máu của ông Nguyễn Vinh A1Nguyễn Văn D đều không có nồng độ cồn.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Nơi xảy ra vụ tai nạn tại ngã tư đường N giao với đường T thuộc địa phận thôn A, xã T, thành phố B. Đây là ngã tư giao nhau có hệ thống đèn tín hiệu giao thông ba màu (xanh, đỏ, vàng). Đường Nguyễn Văn L là đường đôi, chia hai chiều xe chạy bằng dải phân cách cố định, mỗi chiều đường được trải bê tông nhựa bằng phẳng rộng 10,5 m. Đường Trường C là đường đôi, chia hai chiều xe chạy bằng dải phân cách cố định, mỗi chiều đường được trải bê tông nhựa bằng phẳng rộng 10,5 m.

Đường Nguyễn Văn L chọn cột đèn chiếu sáng ký hiệu CS18/L1C bên phải đường là điểm mốc và chọn mép phải đường là mép chuẩn để mô tả hiện trường. Bên phải, bên trái đường N được tính theo chiều từ hầm chui M đi Công an tỉnh.

Vị trí số 1 là vị trí xe đạp điện đổ nghiêng trái trên đường, đầu xe chếch hướng Tây Nam, đuôi xe chếch hướng Đông Bắc. Đo khoảng cách từ tâm trục bánh trước xe (1) cách mép chuẩn và cách điểm mốc lần lượt là 5,55 m và 18 m.

Vị trí số 2 là vị trí xe mô tô biển số 98B3 – 585.50 được dựng trên mặt đường, đầu xe chếch hướng Đông, đuôi xe chếch hướng Tây, đo khoảng cách từ tâm trục bánh trước cách mép chuẩn là 14,1 m, đo khoảng cách từ tâm trục bánh sau cách mép chuẩn và cách tâm trục bánh sau xe (1) lần lượt là 13,35 m và 18,3 m.

Vị trí số 3 là vị trí vết cày xước trên mặt đường kích thước (1,2 × 0,2) m có chiều hướng từ T sang Đ kết thúc tại vị trí xe (1). Đo khoảng cách từ đầu vết (3) cách mép chuẩn là 6,3 m.

Vị trí số 4 là vị trí vết cày xước trên mặt đường kích thước (9 × 0,6) m có chiều hướng từ Tây sang Đ. Đo khoảng cách từ đầu vết (4) cách mép chuẩn và cách tâm trục bánh sau xe (1) lần lượt là 9,5 m và 10,15 m, đo khoảng cách từ cuối vết (4) cách mép chuẩn và cách tâm trục bánh trước xe (2) lần lượt là 12,9 m và 1,2 m.

Vị trí số 5 là vị trí vết máu trên mặt đường kích thước (0,4 × 0,3) m. Đo khoảng cách từ tâm vết (5) cách mép chuẩn và cách tâm trục bánh sau xe (1) lần lượt là 7,5 m và 0,9 m.

Vị trí số 6 là vị trí vết máu trên mặt đường kích thước (0,5 × 0,2) m. Đo khoảng cách từ tâm vết (6) cách mép chuẩn và cách tâm trục bánh trước xe (2) lần lượt là 12,4 m và 17 m.

* Kết quả khám nghiệm xe máy điện nhãn hiệu Seeyes:

Đầu ngoài tay nắm trái có vết mài sát nhựa kích thước (0,5 × 0,5) cm. Đầu ngoài tay phanh trái có vết mài sát kim loại kích thước (0,5 × 0,5) cm.

Đầu ngoài bàn đạp chân trái có vết mài sát nhựa kích thước (7 × 3) cm.

Mặt ngoài ốp trục bàn đạp bên trái tại vị trí cách đất 18 cm có vết mài sát nhựa sạch bụi kích thước (9 × 5) cm.

Đầu ngoài cần đạp bên trái chân chống chính có vết mài sát kim loại kích thước (1 × 1) cm.

* Kết quả khám nghiệm xe mô tô Honda Wave RSX biển số 98B3 – 585.50:

Bên phải ốp nhựa đầu xe có vết mài xước nứt vỡ nhựa kích thước (7 × 3) cm.

Ốc chân gương bên phải có vết mài sát kim loại kích thước (1 × 1) cm.

Đèn tự chế bên phải bật rời khỏi vị trí chân gương, mặt trước đèn có vết mài rách cao su kích thước (6 × 1) cm.

Tay phanh phải bị cong chùn kim loại hướng từ trên xuống, đầu ngoài có vết mài sát kim loại kích thước (1 × 0,5) cm. Đầu ngoài tay nắm phải có vết mài sát kim loại kích thước (2 × 1) cm.

Cánh yếm phải tại vị trí thấp nhất cách đất 86 cm có vết mài sát nhựa kích thước (3 × 2,5) cm.

Mặt ngoài bên phải má lốp trước tại vị trí gần nhất cách chân van 14 cm ngược chiều kim đồng hồ có vết mài xát cao su sạch bụi kích thước (12 × 2,5) cm.

Để chân trước bên phải cong chùn hướng từ trước về sau. Ốp cao su phía ngoài xoay vặn tự nhiên theo ngược chiều kim đồng hồ, đầu ngoài có vết mài rách, mài xát cao su sạch bụi kích thước (4 × 3) cm.

Mặt ngoài ống xả bên phải có vết mài xát kim loại kích thước (34 × 4) cm.

Dấu vết trượt xước kim loại, bám dính chất màu đen (dạng cao su) tại mặt dưới đèn chiếu sáng phụ bên phải, mặt dưới tay phanh bên phải.

*Về thương tích của ông Nguyễn Vinh A1:

Bệnh án nội khoa ngày 22/11/2023 của Bệnh viện đa khoa tỉnh B xác định: Ông Nguyễn Vinh A1 vào viện ngày 23/10/2023, ra viện ngày 22/11/2023. Tình trạng khi vào viện bị chấn thương sọ não do tai nạn giao thông; gãy xương đòn trái; xây sát vùng đầu mặt và nhiều vùng cơ thể.

Bệnh án điều trị nội trú ngày 04/01/2024 của Bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh Bắc Giang xác nhận: Ông Nguyễn Vinh A1 vào viện ngày 07/12/2023, ra viện ngày 27/12/2023. Tình trạng lúc vào viện bị liệt tứ chi do chấn thương sọ não.

Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã trưng cầu giám định pháp y về thương tích của ông Nguyễn Vinh A1.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1999 ngày 15/01/2024 của Trung tâm Pháp y – Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận:

1. Các kết quả chính:

  • Thương tích vết sẹo vùng trán trái kích thước trung bình: 6%.
  • Thương tích vết sẹo vùng thái dương trái kích thước trung bình: 2%.
  • CT sọ não (cũ): Ô đụng dập tụ máu trong mô nhu thùy thái dương phải và chẩm trái. Tụ máu dưới màng cứng cấp trên diện rộng vùng bán cầu phải và vùng thái dương trái. Đường vỡ xương chẩm lệch phải + CT sọ não (hiện tại): Hiện không thấy tổn thương nội sọ do chấn thương hay di chứng chấn thương. Vỡ cũ xương chẩm ở cạnh phải đường giữa dài 21mm + khám thần kinh vận động: Liệt vận động tứ chi mức độ nặng: 94%.
  • Gãy cung tiếp gò má trái: 8%.
  • Chạm thương vai trái không còn dấu vết + gãy 1/3 ngoài xương đòn trái: 6%.
  • Gãy xương sườn 3 bên trái: 2%.
  • Gãy xương sườn 4 bên trái: 2%.

2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Vinh A1 tại thời điểm giám định là: 95%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

3. Kết luận khác:

  • Cơ chế, vật gây thương tích: Các thương tích do va chạm với vật tày gây nên.

Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã trưng cầu giám định cơ chế hình thành dấu vết trong vụ tai nạn giao thông đường bộ.

Kết luận giám định số 168/KL-KTHS ngày 19/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

1- Dấu vết trượt xước kim loại, bám dính chất màu đen (dạng cao su) tại mặt dưới đèn chiếu sáng phụ bên phải, mặt dưới tay phanh bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 98B3 - 585.50, có chiều hướng từ trước ra sau (ảnh số 61, 62 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết trượt xước cao su, kim loại tại tay nắm bên trái và mặt sau tay phanh bên trái của xe đạp điện nhãn hiệu Seeyes, có chiều hướng từ sau ra trước (ảnh số 37, 38 bản ảnh khám phương tiện).

2- Dấu vết trượt xước nhựa, kim loại tại bên trái của xe đạp điện nhãn hiệu Seeyes gồm: đầu tay phanh, bàn đạp, chân chống chính được hình thành do va chạm với vật tày cứng, có bề mặt không nhẵn (như mặt đường) tạo nên. Các dấu vết trên phù hợp với quá trình sau khi va chạm, xe đạp điện nhãn hiệu Seeyes đổ nghiêng trái, rê trượt trên mặt đường tạo nên dấu vết cày xước ký hiệu số 3.

Dấu vết trượt xước sơn, nhựa, kim loại tại bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 98B3 - 585.50 gồm: ốp nhựa đầu xe, chân gương chiếu hậu, đầu tay nắm, đầu tay phanh, cánh yếm, để chân trước, ống xả được hình thành do va chạm với vật tày cứng, có bề mặt không nhẵn (như mặt đường) tạo nên. Các dấu vết trên phù hợp với quá trình sau khi va chạm, xe mô tô biển kiểm soát 98B3 - 585.50 đổ nghiêng phải, rê trượt trên mặt đường tạo nên dấu vết cày xước ký hiệu số 4.

3- Vị trí va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 98B3 - 585.50 với xe đạp điện nhãn hiệu Seeyes trên mặt đường tại trước điểm đầu dấu vết cày xước ký hiệu số 3, thuộc khu vực giao nhau giữa đường T với đường N.

4- Không xác định được chiều hướng chuyển động và tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học

Cơ quan điều tra đã thu giữ, trưng cầu giám định 02 file viveo trích xuất từ hệ thống camera an ninh và giao thông Công an thành phố B ghi lại hình ảnh diễn biến vụ tai nạn giao thông.

Kết luận giám định số 104/KL-KTHS ngày 15/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

1. Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 02 (hai) file video được lưu trữ trong đĩa DVD-R gửi giám định như sau:

  • Tên file “Video 1.mp4"; dung lượng 437MB, thời lượng 15 phút 03 giây.
  • Tên file “Video 2.mp4"; dung lượng 160MB, thời lượng 15 phút 03 giây.

2. Trích xuất được 24 (hai mươi bốn) hình ảnh liên quan đến vụ việc có trong file video gửi giám định.

Xác minh tại Sở Giao thông vận tải tỉnh B xác định: Nguyễn Văn D được Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số [...] ngày 15/4/2015.

Tại bản cáo trạng số 98/CT - VKS ngày 07/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn D ra trước Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang để xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo Nguyễn Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như cáo trạng đã truy tố. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là không oan, bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình là sai, bị cáo rất hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo cùng gia đình đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 80.000.000 đồng, đến nay gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị H1 xác định chị có phải đi viện điều trị sau khi tai nạn giao thông xảy ra do chị ngồi sau xe bị cáo D. Tuy nhiên, chị không có yêu cầu giám định và cũng không có yêu cầu đề nghị gì đối với bị cáo.

Đại diện hợp pháp cho bị hại vắng mặt được Hội đồng xét xử công bố lời khai. Bị cáo không có ý kiến gì về những lời khai đó.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 12 đến 18 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 tháng đến 36 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo D cho UBND xã Đ, huyện Y giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn D cùng gia đình đã tự nguyện bồi thường cho gia đình ông Nguyễn Vinh A1 số tiền 80.000.000 đồng. Đến nay đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Vinh A1 không yêu bị cáo bồi thường gì thêm nên về trách nhiệm dân sự không xem xét trong vụ án này.

Ngoài ra, cần áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình Điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đều hợp pháp.

[2] Về việc xét xử vắng mặt đại diện hợp pháp của bị hại. Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng tới kết quả xét xử do họ đã có lời khai trong hồ sơ. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự để xét xử vắng mặt đại diện hợp pháp cho bị hại là có căn cứ.

[3] Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình gây ra. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ ngày 23/10/2023, Nguyễn Văn D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển số 98B3 – 585.50 đi đến ngã tư giao nhau đường N - đường T thuộc địa phận thôn A, xã T, thành phố B thì có ông Nguyễn Vinh A1 điều khiển xe đạp điện đang đi cùng chiều phía trước chuyển hướng rẽ trái vào đường T nhưng không làm tín hiệu báo rẽ. Do không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ và khoảng cách gần nên xe mô tô do D điều khiển đã va chạm với xe đạp điện do ông A1 điều khiển. Hậu quả làm ông Nguyễn Vinh A1 bị ngã xuống đường và bị tỷ lệ thương tích là 95%. Hành vi của Nguyễn Văn D đã vi phạm Điều 12 Luật Giao thông đường bộ và khoản 3 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G.

Ông Nguyễn Vinh A1 có lỗi vì điều khiển xe chuyển hướng nhưng không làm tín hiệu báo hướng rẽ vi phạm khoản 1 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ.

[4] Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn D đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Bị cáo tham gia giao thông điều khiển xe mô tô nhưng thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ nên đã xảy ra va chạm với ông Nguyễn Vinh A1, hậu quả làm ông Nguyễn Vinh A1 bị thương tích với tỷ lệ 95%. Do vậy, cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ.

[5] Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại tới sức khỏe của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

[6] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa bị đưa ra xét xử hình sự lần nào.

[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại. Ngoài ra, người bị hại cũng có lỗi khi tham gia giao thông. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng cho bị cáo.

[9] Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, điều luật đã viện dẫn. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Nguyễn Văn D là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặt khác, sự việc xảy ra có một phần lỗi của bị hại là ông Nguyễn Vinh A1. Do vậy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ để giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội.

Do đó, cần áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn D và gia đình đã tự nguyện bồi thường cho gia đình ông Nguyễn Vinh A1 số tiền 80.000.000 đồng. Đến nay đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Vinh A1 không yêu bị cáo bồi thường gì thêm nên về trách nhiệm dân sự, Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

[11] Ngoài ra cần áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; khoản 2 Điều 136; các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự để buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 01 (một) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (31/5/2024).

Giao bị cáo D cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo D phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự

3. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Báo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp cho bị hại vắng mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh (1 b);
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang.
  • - VKSND thành phố Bắc Giang (2b);
  • - THADS thành phố Bắc Giang (4b);
  • - Lưu HS.VP ( 1 b);
  • - Công an thành phố Bắc Giang;
  • - Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Lương Thị Thanh Quyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2024/HS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 110/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn D phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger