Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 110/2024/HS-ST

Ngày: 31-05-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

*Tại điểm cầu trung tâm (Trụ sở Toà án nhân dân quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh – Số 416/2 đường Dương Quảng Hàm, Phường 5, quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh) gồm có:

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Tường Linh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Võ Thị Mai.

2. Bà Châu Thị Lệ .

Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thị Thục Đoan – Thư ký Toà án nhân dân quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trường Thành - Kiểm sát viên.

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Bà Lương Thị Thu T, sinh năm 1972 (Vắng mặt).

Địa chỉ: 2 Đ, Phường A, quận G, Tp ..

*Tại điểm cầu thành phần (Trại tạm giam C - Cơ sở T6; Địa chỉ: Xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh) gồm có:

-Ông Nguyễn Minh T1 – Thư ký Toà án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).

-Bà Quách Diệp Nguyệt T2 – Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Tp . (Có mặt).

Ngày 31 tháng 05 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm là trụ sở Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh và điểm cầu thành phần là Trụ sở trại tạm giam C thuộc công an thành phố H - Cơ sở T30 xét xử trực tuyến, công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 111/2024/TLST-HS ngày 09/05/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 139/2024/QĐXXST-HS ngày 17/05/2024 đối với các bị cáo:

1/ Phan Thị Phương T3; Giới tính: Nữ; Sinh năm 1992 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: C T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện tại: 3 Â, Phường C, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 06/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Phan Văn N (đã chết) và bà Phùng Bích L; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có chồng, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 23/04/2014, bị Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án số 54/HSST; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/01/2024 (có mặt)

2/ Trần Thanh H; Giới tính: Nam; Sinh năm 1995 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 2 Đ, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn Hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Trần Thanh L1 và bà Lương Thị Thu T; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/01/2024 (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Thanh H và Phan Thị Phương T3 là bạn bè chơi chung với nhau. Khoảng 14 giờ 00 ngày 25/01/2024, Trần Thanh H có nhu cầu sử dụng ma tuý nên H dùng điện thoại di động SAMSUNG gắn sim số 0812033530 điện thoại bằng mạng xã hội mesenger gọi cho Phan Thị Phương T3 nhờ mua dùm 200.000 đồng tiền ma túy và hẹn gặp nhau tại nhà trọ của đối tượng Nguyên Nhật L2 ở địa chỉ 2 đường T, Phường A, quận G, H sẽ đưa tiền mua ma tuý cho T3 thì T3 đồng ý. Sau đó, H một mình điều khiển xe mô tô biển số biển số 53V8-5178 đi đến nhà trọ của L2 để dọn dẹp nhà giúp L2.

Sau khi nghe điện thoại của H, T3 cũng muốn mua ma túy để sử dụng, nên dùng điện thoại di động hiệu Redmi gắn sim số 0762202879, sử dụng tài khoản Zalo tên “B” nhắn tin với tài khoản zalo tên “T4 nhây” là đối tượng quen biết ngoài xã hội tên T4 (T3 không rõ nhân thân, lai lịch), đặt mua 600.000 đồng ma túy và nói T4 chia ra làm 02 gói nylon cho T3 gồm một gói 400.000 đồng là phần của T3 và 01 gói 200.000 đồng là phần của H thì T4 đồng ý, hẹn giao ma túy cho T3 tại trước khu vực chợ H1 Thôn G quận G. Khoảng 15 giờ 30 ngày 25/01/2024, T3 đi xe grap (T3 không nhớ đặc điểm của người chạy xe grap và biển số xe do T3 thuê trực tiếp không đặt qua điện thoại) đến trước chợ Hạnh T5 Tây địa chỉ F Q, Phường A, quận G gặp T4. Tại đây, T4 bán cho T3 02 (hai) gói nylon bên trong có chứa ma túy như đã đặt trước. Thảo trả 600.000 đồng (sáu trăm ngàn đồng) cho T4 rồi cất giấu 02 gói nylon chứa ma túy vào túi áo khoác đang mặc, một mình bắt xe ôm đến nhà số B đường T, Phường A, quận G để gặp H. Khi đến nơi, T3 gặp H cùng L2 đang dọn dẹp nhà. Trong khi H và T3 dọn dẹp phòng giùm L2 thì T3 đưa gói ma túy vừa mua giùm cho H và H đã gửi lại 200.000 đồng cho T3. T3 cất gói nylon chứa ma túy vừa mua vào trong ví da màu xanh cất trong túi xách màu đen của T3. Còn H cất giấu gói ma túy của H vào túi quần Jean phía trước bên phải H đang mặc. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, sau khi dọn dẹp xong, T3, H và L2 ra đứng trước cửa nhà định đi về thì Công an Q phối hợp với Công an P, quận G tiến hành kiểm tra T3, H, L2. Quá trình kiểm tra, phát hiện T3 và H mỗi người đều có cất giấu một gói nylon chứa tinh thể không màu, nghi là ma túy nên tiến hành thu giữ, lập biên phạm tội bắt quả tang đối với H và T3. Riêng đối tượng L2 được Công an Q đưa về trụ sở Công an Q để làm việc vì có liên quan đến một vụ án “Trộm cắp tài sản” do Công an Q đang thụ lý.

*Vật chứng vụ án:

Thu giữ của Phan Thị Phương T3:

  • - 01 (một) gói nylon bên trong chứa tinh thể rắn không màu (m1), thu giữ của Phan Thị Phương T3, đã được niêm phong có dấu mộc của Công an phường P, quận G và chữ ký của Phan Thị Phương T3. Căn cứ Bản kết luận giám định số 1939/KLGĐ-MT ngày 01/02/2024 của Phòng K - Công an Thành phố H kết luận: mẫu m1 là ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,3807gam, loại Methamphetamine; m2 là ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,1833gam, loại Methamphetamine.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi gắn sim số 0762202879.
  • - 01 (một) ví màu đen đã qua sử dụng
  • - 01 (một) túi màu đen có chữ Yankess.

Thu giữ của Trần Thanh H:

  • - 01 (một) gói nylon bên trong chứa tinh thể rắn không màu (m2) thu giữ của Trần Thanh H, đã được niêm phong có dấu mộc của Công an P, quận G và chữ ký của Trần Thanh H. Căn cứ Bản kết luận giám định số 1939/KLGĐ-MT ngày 01/02/2024 của Phòng K - Công an Thành phố H kết luận mẫu m2 là ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,1833gam, loại Methamphetamine.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Sam sung gắn sim số 0812033530.
  • - 01 (một) quần Jean màu xanh trắng đã qua sử dụng.
  • - 01 (một) xe mô tô Honda Wawe biển số 53V8-5178, số máy: JCR110FMH-110656, số khung: VCRPCH003IR110656. Kết quả xác minh tại Đ, Công an quận G xác định: Chiếc xe mô tô Honda Wawe biển số 53V8-5178, số máy: JCR110FMH-110656, số khung: VCRPCH003IR110656 có chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị Ê, sinh năm: 1946, thường trú: D Q, Phường A, quận G (hiện đã chết. Làm việc với bà Lương Thị Thu T (con giá bà Ê), sinh năm 1972 thường trú 21/11 đường Đ, Phường A, quận G) biết được trước khi mất bà Ê đã cho cho chị T chiếc xe mô tô này. Việc bà Ê cho bà T xe không làm giấy tờ gì, không làm hợp đồng uỷ quyền và không làm thủ tục sang tên đổi chủ. Sau đó bà T cho bị can Trần Thanh H (con trai) mượn xe mô tô trên để đi làm phụ hồ. Việc H sử dụng xe trên đến phòng trọ của L2 sau đó bị bắt thì chị T không biết.
  • Làm việc với bị can H thì H khai nhận: ngày 25/01/2024 H mượn chiếc xe mô tô trên của mẹ ruột bà Lương Thị Thu T để đi làm phụ hồ. Sau đó H đã sử dụng chiếc xe trên đi đến phòng trọ của L2 và nhờ T3 mua ma tuý để sử dụng thì bị Công an phát hiện và tạm giữ xe mô tô như nêu trên, việc này H không cho chị T biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G đã tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu chiếc xe trên, nhưng đến nay chưa có ai đến liên hệ để làm việc.

Tại bản cáo trạng số 124/Ctr-VKS-GV, ngày 16/05/2024 Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố các bị cáo Trần Thanh H và Phan Thị Phương T3 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

  • - Xử phạt bị cáo Phan Thị Phương T3 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
  • - Xử phạt bị cáo Trần Thanh H từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù.
  • - Tịch thu và tiêu hủy 01(một) gói nylon chứa tinh thể không màu có khối lượng 0,1833 gram và 01(một) gói nylon chứa tinh thể không màu có khối lượng 0, 3807 gram loại Methamphetamine, được niêm phong có chữ ký của của các bị cáo Trần Thanh H và Phan Thị Phương T3 và hình dấu công an phường 10 quận G.
  • - Tịch thu nộp sung công quỹ nhà nước chiếc điện thoại di động hiệu Redmi gắn sim số 0762202879 và chiếc điện thoại di động hiệu Sam Sung có số sim 08112033530;
  • - Tịch thu tiêu hùy 01 ví màu đen đã qua sử dụng, 01 túi màu đen có chữ Yankess và quần Jean màu xanh trắng đã qua sử dụng do các bị cáo không nhận lại.
  • - Trả lại cho bà Lương Thị Thu T chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wawe biển số 53V8-5178.
  • - Miễn phạt bổ sung cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì các bị cáo đã khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, hoàn toàn phù hợp với bản kết luận điều tra của Công an quận G, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, biên bản phạm pháp quả tang và tang vật thu giữ, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Đối chiếu với các điều luật tương ứng do Bộ luật Hình sự quy định. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của các bị cáo Phan Thị Phương T3 và Trần Thanh H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt trừng trị được quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, đã xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, đã xâm phạm và làm ảnh hưởng đến chính sách quản lý kinh tế, an ninh quốc gia, gây mất trật tự trị an xã hội và là nguồn gốc phát sinh các tội phạm khác.

[4] Mặc dù các bị cáo nhận thức được việc tàng trữ, vận chuyển, sử dụng và mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm và nếu vi phạm sẽ bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng các bị cáo vẫn ngang nhiên tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng, bất chấp những quy định của pháp luật, bất chấp mọi hậu quả xảy ra kể cả việc trừng trị của pháp luật, cần thiết phải có mức hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo. Số ma túy bị cáo T3 tàng trữ trái phép qua giám định có khối lượng: 0,3807 gram loại Methamphetamine, Số ma túy bị cáo H tàng trữ trái phép qua giám định có khối lượng: 0,1833 gram loại Methamphetamine nên Viện kiểm sát nhân dân quận G truy tố các bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có cơ sở, do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm tạo điều kiện cho các bị cáo phấn đấu trở thành người tốt hơn sau này biết tôn trọng pháp luật đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

Đây là vụ án có đồng phạm nhưng thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn bị cáo H goi điện thoại cho bị cáo T3 nhờ mua dùm 200.000 đồng ma túy để xử dụng, bị cáo T3 gọi điện thoại cho đối tượng tên T4 đặt mua 02 gói ma túy với số tiền là 600.000 đồng, sau khi nhận ma túy, bị cáo T3 giao lại cho bị cáo H 01 gói ma túy mà bị cáo H nhờ mua để xử dụng, nên hình phạt đối với các bị cáo phải ngang nhau.

[5] Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét các tình tiết, tại Cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên toà hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, chưa có tiền án, tiền sự, gia đình bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo mà lẽ ra các bị cáo phải chịu.

[6] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự Hội đồng xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên quyết định miễn phạt cho các bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 02 gói nylon chứa tinh thể không màu có khối lượng 0,3807 gram loại Methamphetamine và 0,1833 gram loại Methamphetamine được niêm phong có chữ ký của các bị cáo Phan Thị Phương T3 và Trần Thanh H và hình dấu công an phường 10 quận G, là chất Nhà nước cấm lưu hành nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 điện thoại hiệu Sam Sung của bị cáo H và chiếc điện thoại di động hiệu Redmi gắn sim số 0762202879 của bị cáo T3, các bị cáo dùng làm phương để liên lạc mua ma túy là vật chứng vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
  • - Đối với chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wawe biển số 53V8-5178. Qua xác minh do bà Nguyễn Thị Ê đứng tên (đã chết), bà Ê cho bà T chiếc xe trên trước khi qua đời, nhưng chưa làm thủ tục sang tên, nay bà T có đơn yêu cầu nhận lại chiếc xe trên, Hội đồng xét xử xét thấy chiếc xe trên có nguồn gốc hợp pháp, nên Quyết định trả lại chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wawe biển số 53V8-5178 cho bà T.
  • - Đối với 01 ví màu đen đã qua sử dụng, 01 túi màu đen có chữ Yankess và quần Jean màu xanh trắng đã qua sử dụng do các bị cáo không nhận lại, nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với đối tượng tên T4 là người bán ma túy cho bị cáo T3, do chưa xác minh được lai lịch nên chưa có cơ sở xử lý khi nào xác định được sẽ xu73lyl sau.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố các bị cáo Trần Thanh H và Phan Thị Phương T3 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt bị cáo Phan Thị Phương T3 01(một) năm 06(sáu) tháng tù.

Thời hạn tù được tính kể từ ngày 25/01/2024.

Xử phạt bị cáo Trần Thanh H 01(một) năm 06(sáu) tháng tù.

Thời hạn tù được tính kể từ ngày 25/01/2024

Áp dụng Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

  • - Tịch thu và tiêu hủy 01(một) gói nylon chứa tinh thể không màu có khối lượng 0,1833 gram và 01(một) gói nylon chứa tinh thể không màu có khối lượng 0, 3807 gram loại Methamphetamine, được niêm phong có chữ ký của của các bị cáo Trần Thanh H và Phan Thị Phương T3 và hình dấu công an phường 10 quận G.
  • - Tịch thu nộp sung công quỹ nhà nước chiếc điện thoại di động hiệu Redmi gắn sim số 0762202879 và chiếc điện thoại di động hiệu Sam Sung có số sim 08112033530;
  • - Tịch thu tiêu hủy 01 ví màu đen đã qua sử dụng, 01 túi màu đen có chữ Yankess và quần Jean màu xanh trắng đã qua sử dụng do các bị cáo không nhận lại.
  • - Trả lại cho bà Lương Thị Thu T chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wawe biển số 53V8-5178.

Theo (Phiếu nhập kho vật chứng số 41/PNK ngày 26/02/2024 của Công an quận G).

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm mỗi người là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án.

Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • -TAND TPHCM;
  • - VKSND TPHCM;
  • -Viện kiểm sát quận Gò Vấp;
  • -Công an quận Gò Vấp;
  • -Chi cục thi hành án quận Gò Vấp;
  • -Người tham gia tố tụng;
  • -Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Tường Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2024/HS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 110/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thanh H và Phan Thị Phương T3 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger