Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Bản án số:110/2024/HNGĐ-

ST

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ngày: 30/7/2024

V/v "Tranh chấp ly hôn "

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Bảo Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Hoàng Diệu

Ông Nguyễn Văn Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Phong Lan - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Lâm Thành Them - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 31/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Ngọc T, sinh năm 1978

Địa chỉ: 2 đường C, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn: Ông Thai Lam D, sinh năm 1958

Nơi cư trú: 53-02 69th St Maspeth NY 11378, USA

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại Đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Huỳnh Ngọc T trình bày và yêu cầu:

Năm 2009 do mai mối bà và ông Thai Lam D không tìm hiểu kỹ mà vội tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thành phố H (theo Giấy chứng nhận kết hôn bản sao vào số số 1148 quyền số 04 ngày 31/03/2010 của Sơ Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh cấp). Sau khi kết hôn được 01 tháng thì ông Thai Lam D về Hoa Kỳ và hứa sẽ quay trở lại Việt Nam. Tuy nhiên, sau khi về Hoa Kỳ thì ông Thai Lam D không trở lại Việt Nam, từ đó bà và ông Thai Lam D cũng không liên lạc với nhau. Do bận công việc nên bà cũng không quan tâm đến việc đăng ký kết hôn này.

Do không có tình cảm và để hai bên không còn ràng buộc về mặt pháp lý nên bà làm đơn này khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Thai Lam D.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: bà cho rằng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là ông Thai L D vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không thu thập được ý kiến của ông.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tại phiên tòa: những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án nhận thấy, giữa nguyên đơn với bị đơn không cùng chung sống mà mỗi người ở hai quốc gia khác nhau, không quan tâm, thương yêu, chăm sóc lẫn nhau, hôn nhân chỉ còn tồn tại về mặt pháp lý, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận cho bà T được ly hôn với ông Thai Lam D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Huỳnh Ngọc T có nơi cư trú tại quận B, thành phố Cần Thơ khởi kiện xin ly hôn với ông Thai L D cư trú tại Hoa Kỳ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 37 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bà T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, còn ông Thai Lam D đã được Tòa án tống đạt thông báo hợp lệ về thời gian mở phiên tòa nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do. Vì vậy, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Ngọc T và ông Thai Lam D có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thành phố H (theo Giấy chứng nhận kết hôn bản sao vào số số 1148 quyền số 04 ngày 31/03/2010 của Sơ Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh cấp) nên xác định là hôn nhân hợp pháp. Theo bà T trình bày, sau khi kết hôn được 01 tháng thì ông Thai Lam D về Hoa Kỳ và hứa sẽ quay trở lại Việt Nam. Tuy nhiên, sau đó thì ông Thai Lam D không trở lại Việt Nam, giữa hai bên cũng không liên lạc với nhau, do không có tình cảm nên bà xin ly hôn với ông D.

Xét thấy, giữa bà T và ông Thai Lam D sau khi kết hôn thì không cùng nhau chung sống, mỗi người ở một quốc khác nhau, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không liên lạc gì với nhau, vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ vợ chồng, quan hệ hôn nhân chỉ còn tồn tại về mặt pháp lý. Do đời sống chung giữa nguyên đơn và bị đơn không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho bà T được ly hôn với ông Thai Lam D là phù hợp theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[3] Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà Huỳnh Ngọc T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, nếu có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.

[4] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng và lệ phí ủy thác, chi phí thông báo tố tụng, nguyên đơn phải chịu.

[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận cho bà T được ly hôn với ông D là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 153, khoản 2 Điều 227, khoản 6 Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Ngọc T.
    • - Về hôn nhân: Cho bà Huỳnh Ngọc T được ly hôn với ông Thai Lam D.
    • - Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
  2. Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Huỳnh Ngọc T phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm bà T đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000223 ngày 07 tháng 2 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ, bà T đã nộp đủ tiền án phí.
  3. Về chi phí tố tụng: Bà Huỳnh Ngọc T phải chịu 1.203.401 đồng cước phí gởi thư bảo đảm phát nhanh, chi phí đăng thông báo tố tụng cho ông Thai Lam D. Bà T đã nộp đủ chi phí tố tụng.
  4. Về quyền kháng cáo: Bà Huỳnh Ngọc T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết; Ông Thai Lam D được quyền kháng cáo trong hạn 30 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật, để yêu cầu Tòa án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm theo luật định./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND TPCT;
  • - Cục THADS TPCT;
  • - Sở tư pháp TPHCM;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Võ Bảo Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2024/HNGĐ-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 110/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận ly hon
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger