|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 110/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 28-12-2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Thêm.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Tống Văn Tâm;
- Bà Huỳnh Anh Thư.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thuyến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Võ Anh Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 372/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2023 về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 11 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 62/2023/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Ngô Ngọc M, sinh năm 1991; địa chỉ: ấp D, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang; nơi ở hiện nay: nhà trọ Trương Thị T, đường K, tổ F, khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Xin vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu L, sinh năm 1991; địa chỉ: ấp G, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang; nơi ở hiện nay: nhà trọ Trương Thị T, đường K, tổ F, khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 11/8/2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Ngô Ngọc M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Ngọc M và ông Nguyễn Hữu L tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường, huyện V, tỉnh Hậu Giang được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 11 ngày 03/3/2021.
Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung hạnh phúc khoảng 02 năm. Từ đầu năm 2023, vợ chồng thường xuyên xảy mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không còn tin tưởng lẫn nhau và vợ chồng không còn chung quan điểm sống. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn. Vợ chồng đã nhiều lần tìm cách giải quyết mâu thuẫn của vợ chồng nhưng không thành. Bà M nhận thấy không thể tiếp tục sống chung với ông L được nữa. Tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn ngày càng nghiêm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà M yêu cầu ly hôn với ông L.
Về con chung: Vợ chồng có một người con chung tên Nguyễn Kim N, sinh ngày 29/12/2020. Khi ly hôn bà M yêu cầu được quyền nuôi dưỡng con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà M không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Hữu L vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến gửi đến Tòa án.
Biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân và Công an phường K, địa phương cung cấp thông tin như sau: Ông Nguyễn Hữu L, sinh năm 1991; địa chỉ: ấp G, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang có sinh sống và đăng ký tạm trú tại nhà trọ Trương Thị T, đường K, tổ F, khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương từ ngày 28/5/2023 đến ngày 12/9/2023 thì không còn tạm trú và sinh sống tại đây. Hiện nay ông L làm gì ở đâu địa phương không rõ. Địa phương không biết nguyên nhân dẫn đến việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa bà Ngô Ngọc M và ông Nguyễn Hữu L vì không nhận được tin báo.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên phát biểu tại phiên tòa:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng và đương sự đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Thẩm phán xác định quan hệ pháp luật đúng theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Tân Uyên.
Về nội dung: Bà Ngô Ngọc M và ông Nguyễn Hữu L có đăng ký kết hôn và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn. Nguyên nhân bà M yêu cầu ly hôn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, hiện nay vợ chồng không còn sống chung nên bà M yêu cầu ly hôn với ông L là có căn cứ. Về con chung đang sống chung với bà M nên bà yêu cầu được quyền nuôi dưỡng con chung phù hợp; bà M không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung, nợ chung: bà M không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát,
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Ngô Ngọc M có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với ông Nguyễn Hữu L nên đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Nguyễn Hữu L có địa chỉ tạm trú tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Ông Nguyễn Hữu L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vắng mặt không có lý do. Bà Ngô Ngọc M có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và đã có lời khai tại Tòa án. Do đó, Tòa án căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ để giải quyết vụ án vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Ngọc M và ông Nguyễn Hữu L là những người đủ điều kiện kết hôn; ông bà tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân phường, huyện V, tỉnh Hậu Giang được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 11 ngày 03/3/2021 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Bà M yêu cầu ly hôn với ông L do vợ chồng bất đồng quan điểm sống và hiện nay bà M không còn tình cảm với ông L. Xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng đã trầm trọng không thể đoàn tụ sống chung nên bà M yêu cầu ly hôn với ông L là có căn cứ chấp nhận.
[4] Về con chung: Vợ chồng có một người con chung Nguyễn Kim Ngân, sinh ngày 29/12/2020. Bà M yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn vì con chung còn nhỏ và đang sống chung với bà M. Do đó yêu cầu của bà M là cơ sở chấp nhận.
[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà M không yêu cầu ông Nguyễn Hữu L cấp dưỡng nuôi con chung nên Tòa án không giải quyết.
[6] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
[7] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ phù hợp quy định pháp luật.
[8] Về án phí: Nguyên đơn bà Ngô Ngọc M phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 146, 147, 227, 228, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;
- - Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Ngọc M về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với ông Nguyễn Hữu L như sau:
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Ngọc M được ly hôn với ông Nguyễn Hữu L.
- - Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Kim N, sinh ngày 29/12/2020 cho bà Ngô Ngọc M trực tiếp nuôi dưỡng;
Bà Ngô Ngọc M và ông Nguyễn Hữu L đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con được quyền đi lại thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp lạm dụng quyền đi lại thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
- Về án phí: Bà Ngô Ngọc M phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0008150, ngày 10 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a,7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Hồng Thêm |
Bản án số 110/2023/HNGĐ-ST ngày 28/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 110/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn giữa Ngô Ngoc M - Nguyễn Hữu L
