Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN H

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 110/2023/HSST

Ngày: 28/8/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ÔNG LÊ VĂN XÔ.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. ÔNG LA MINH CÔNG.
  2. ÔNG HOÀNG VÂN.

Thư ký phiên tòa: BÀ NGUYỄN THỊ THANH NHI – Thư ký Tòa án nhân dân huyện H tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: ÔNG PHAN QUỐC KHÁNH – kiểm sát viên.

Ngày 28/8/2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 108/2023/HSST ngày 07/8/2023; Quyết định xét xử số 93/2023/QĐXXST-HS ngày 14/8/2023 đối với bị cáo:

NGUYỄN THỊ NGỌC B - Sinh năm 1997, tại Bình Thuận.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Thiên chúa giáo.

Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: lao động tự do.

Con ông: Nguyễn Hải N - 1963 và bà: Phan Thị Thúy P - 1965.

Anh chị em ruột có 04 người; lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 2002, bị cáo là con thứ ba.

Chồng: Tăng Quốc P1 – 1993. Vợ chồng có 03 người con: lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2023.

Tiền án; Tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 25/6/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 45/2020/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/4/2021 cùng các quyết định khác của bản án, đến nay đương nhiên được xóa án tích.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Những người tham gia tố tụng:

  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Hà Thanh V – 1996. Trú: thôn T, xã T, TP., tỉnh Bình Thuận (vắng mặt).
    2. Ông Uông Trí T – 1975. Trú: thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt).
  • - Người chứng kiến:
  • Ông Cao Minh T1 – 1996. Trú: thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đối với hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Ngọc B được tóm tắt như sau:

Để phục vụ cho nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, vào khoảng 10 giờ ngày 10/6/2023, Nguyễn Thị Ngọc B đi đến thành phố P, tỉnh Bình Thuận gặp một người phụ nữ tên D (không rõ nhân thân lai lịch) mua được 01 gói nilon, bên trong có chứa ma túy với giá 2.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, B đem gói ma túy về cất giấu trong hộp “Sâm nhung bổ thận” rồi để trong phòng trọ của mình tại thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Đến khoảng 20 giờ ngày 11/6/2023, Công an huyện H tiến hành kiểm tra, phát hiện gói ma túy bên trong hộp “Sâm nhung bổ thận” của B nên tiến hành bắt quả tang, thu giữ gói ma túy và đưa B về trụ sở làm việc. Tại cơ quan Công an, B thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân.

Căn cứ Bản kết luận giám định số 706/KL-KTHS ngày 19/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: chất tinh thể màu trắng bên trong gói nilon thu giữ của Nguyễn Thị Ngọc B có khối lượng 4,4479 gam, là Methamphetamine.

* Vật chứng của vụ án gồm:

01 hộp hình chữ nhật màu đen, có KT(15x12x07)cm, có chữ màu vàng “Sâm nhung bổ thận”; 01 gói nilon có KT(8,5x5)cm được hàn kín, một đầu có khóa kéo màu đỏ cùng 4,4172 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định.

Tại bản cáo trạng số 111/CT-VKSHTN-HS ngày 04/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc B về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H phát biểu quan điểm xử lý vụ án như sau:

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Nguyễn Thị Ngọc B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Đề nghị xử phạt: Nguyễn Thị Ngọc B từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm 06 tháng tù.

Vật chứng vụ án:

Áp dụng: Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015.

Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 hộp hình chữ nhật màu đen, có KT(15x12x07)cm, xung quanh hộp có chữ màu vàng “Sâm nhung bổ thận”; 01 gói nilon có KT(8,5x5)cm được hàn kín, một đầu có khóa kéo màu đỏ cùng 4,4172 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 706 có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N1 và dấu đỏ tròn của Phòng K Công an tỉnh B. Đây là vật cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng.

Hiện trạng vật chứng trên theo biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 17/8/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H.

Tại phiên tòa bị cáo thống nhất quan điểm luận tội của Viện kiểm sát, không tranh luận gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện H, tỉnh Bình Thuận. Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận. Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy trình của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện điều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Ngọc B khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy cho bản thân, nên vào khoảng 10 giờ ngày 10/6/2023, bị cáo Nguyễn Thị Ngọc B mua 01 gói nilon, bên trong có chứa ma túy với giá 2.000.000 đồng của một người phụ nữ tên D (không rõ nhân thân lai lịch). Sau khi mua được ma túy, bị cáo B đem gói ma túy về cất giấu trong hộp “Sâm nhung bổ thận” rồi để trong phòng trọ của mình tại thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Đến khoảng 20 giờ ngày 11/6/2023, Công an huyện H tiến hành kiểm tra, phát hiện gói ma túy bên trong hộp “Sâm nhung bổ thận” của B nên tiến hành bắt quả tang, thu giữ gói ma túy.

Căn cứ Bản kết luận giám định số 706/KL-KTHS ngày 19/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: chất tinh thể màu trắng bên trong gói nilon thu giữ của Nguyễn Thị Ngọc B có khối lượng 4,4479 gam, là Methamphetamine.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Ngọc B đã trực tiếp xâm hại đến các quy định của nhà nước về quản lý các chất ma túy, còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Ngọc B là cố ý, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và khung hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 như nội dung cáo trạng đã truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bản thân bị cáo là đối tượng sử dụng ma túy, đã bị xét xử về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bản thân nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là việc làm bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng bị cáo vẫn tàng trữ ma túy để sử dụng, thể hiện xem thường pháp luật, chưa ăn năn hối cải, cần đưa ra xét xử nghiêm bị cáo, để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời răn đe giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội, góp phần lập lại tình hình trật tự trị an ở địa phương.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như mức độ phạm tội của bị cáo để có mức hình phạt thích hợp tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, trong thời gian tại ngoại bị cáo có tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong công tác phát hiện tội phạm về ma túy (có xác nhận của phòng CSĐT tội phạm về ma túy của Công an tỉnh B), thể hiện ăn năn hối cải, gia đình bị cáo khó khăn, chồng bị cáo hiện đang chấp hành án phạt tù, bị cáo là lao động chính hiện đang nuôi con còn nhỏ. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 nên cần áp dụng cho bị cáo.

[3] Vật chứng của vụ án:

01 hộp hình chữ nhật màu đen, có KT(15x12x07)cm, xung quanh hộp có chữ màu vàng “Sâm nhung bổ thận”; 01 gói nilon có KT(8,5x5)cm được hàn kín, một đầu có khóa kéo màu đỏ cùng 4,4172 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 706 có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N1 và dấu đỏ tròn của Phòng K Công an tỉnh B. Xét thấy đây là vật cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Hiện trạng vật chứng trên theo biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 17/8/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H.

[4] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

TUYÊN BỐ: Nguyễn Thị Ngọc B, phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm s, t khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.

XỬ PHẠT: Nguyễn Thị Ngọc B 02(Hai) năm 06(S) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

ÁP DỤNG: Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp hình chữ nhật màu đen, có KT(15x12x07)cm, xung quanh hộp có chữ màu vàng “Sâm nhung bổ thận”; 01 gói nilon có KT(8,5x5)cm được hàn kín, một đầu có khóa kéo màu đỏ cùng 4,4172 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 706 có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N1 và dấu đỏ tròn của Phòng K Công an tỉnh B. Hiện trạng vật chứng trên theo biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 17/8/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H.

Căn cứ Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị Ngọc B phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28/8/2023). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Như Điều 262 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015.
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM.

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Xô

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2023/HSST ngày 28/08/2023 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 110/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt Nguyễn Thị Ngọc B 2 năm 6 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger