Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 110/2024/HS-ST

Ngày: 26-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Linh Sương

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Đoàn Hồng Hải
  2. Bà Trần Thị Tuyết

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tùng Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai Vụ án hình sự thụ lý số 101/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 122/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

1) Vương Quốc T (tên gọi khác: Họt Văn T1), sinh ngày 17 tháng 12 năm 1990 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Không có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú; nơi ở hiện tại: Không có nơi ở nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Không biết chữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Hoa; tôn giáo: Không; con ông: Họt Văn Q và bà: Vương Mỹ H; không có anh chị em; có vợ tên Nguyễn Thị T2, sinh năm 1988; không có con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 18/11/2009, bị Công an P1, Quận E xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, hình thức phạt tiền 350.000 đồng theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0039259/QĐ-XPHC, bị cáo đã đóng phạt vào ngày 01/12/2009; ngày 07/11/2011, bị Ủy ban nhân dân Quận E ra Quyết định đưa đi cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng, tháng 01/2013 chấp hành xong; ngày 15/6/2017, bị Tòa án nhân dân Quận 5 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 22 tháng theo Quyết định số 71/2017/QĐ-TA, ngày 28/02/2019 bị cáo chấp hành xong; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an Q2; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2) Nguyễn Hồng P (tên gọi khác: T3), sinh ngày 12 tháng 3 năm 1984 tại: Đồng Nai; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp P, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai; nơi ở hiện tại: Không nơi ở nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 08/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Văn L và bà: Nguyễn Thị T4; không có anh chị em; có vợ tên Lâm Thị Kim N; có 02 người, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 05/5/2009, bị Tòa án nhân tỉnh Tây Ninh xử phạt 05 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 38/2009/HSST, ngày 30/8/2011 bị cáo chấp hành xong bản án; ngày 27/01/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, 01 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, 09 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp hình phạt chung là 03 năm tù, ngày 15/9/2015 chấp hành xong nghĩa vụ nộp án phí sơ thẩm, ngày 23/9/2016 chấp hành xong hình phạt tù; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an Q2; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Trần Văn T5, sinh năm 2001; nơi cư trú: Số C T, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Ông Nguyễn Hoàng N1, sinh năm 1974; nơi cư trú: E N, Phường I, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt tại phiên tòa).

2/ Ông Nguyễn Tấn T6, sinh năm 1983; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 06 T, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước (Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vương Quốc T và Nguyễn Hồng P là bạn bè quen biết với nhau từ trước. T bán nước giải khát tại Quảng trường T, địa chỉ A Hồ N, Phường A, Quận E. Khoảng 21 giờ ngày 02/4/2024, T và P gặp nhau tại quán nước của T thì lúc này T rủ P đi trộm cắp tài sản để đem bán lấy tiền chia nhau tiêu xài thì P đồng ý. T giao cho P chiếc xe mô tô loại Yamaha Exciter, biển số 59B1-594.65 của T để P điều khiển chở T ngồi sau đi lòng vòng các tuyến đường ở Quận E, tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Khi cả hai đi đến trước nhà số C T, Phường A, Quận E thì T phát hiện chiếc xe mô tô hiệu Honda Future màu trắng, biển số 67L2 – 836.88 của ông Trần Văn T5 đang dựng trước nhà không có ai trông coi nên chỉ cho P thấy. P dừng xe đứng cách chiếc xe mô tô Future màu trắng, biển số 67L2 – 836.88 khoảng 30 mét và quay đầu xe lại làm nhiệm vụ cảnh giới, còn T xuống xe đi bộ đến dắt chiếc xe Future màu trắng, biển số 67L2 – 836.88 về phía P đang đứng chờ. Lúc này P ngồi lên xe Future màu trắng, biển số 67L2 – 836.88 để T ngồi trên xe Yamaha Exciter, biển số 59B1-594.65 dùng chân đẩy chiếc xe Future màu trắng. Cả hai đẩy chiếc xe trên về nhà của T tại số B ấp C, xã B, huyện B. Sau đó P đi về nhà còn T thuê 01 người thợ sửa khóa (không rõ lai lịch) đến làm chìa khóa xe vừa trộm được. Sau khi làm được chìa khóa, T mở cốp xe kiểm tra thì thấy trong cốp xe có giấy đăng ký xe mang tên Trần Văn T5. Do trước đây, bà Huỳnh Thị Thùy T7 là bạn bè quen biết của T có nhờ T mua dùm 01 chiếc xe mô tô cũ để sử dụng đi làm nên ngày 03/4/2024, T liên lạc với T7 nói có chiếc xe mô tô hiệu Future do T mới mua được từ cửa hàng cầm đồ với giá 25.000.000 đồng và kêu T7 đến lấy để sử dụng. T không nói cho chị T7 biết xe trên là do T trộm cắp mà có. Khoảng 20 giờ ngày 04/04/2024, bà T7 đến nhà của T tại B ấp C, xã B, huyện B, tại đây T giao lại chiếc xe cùng giấy đăng ký xe đã trộm cắp của ông T5 cho bà T7 điều khiển đi về nhà. Bà T7 dùng xe trên để đi làm được bốn ngày thì được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2 mời về làm việc và thông báo xe bà T7 đang sử dụng là xe bị trộm cắp nên bà T7 tự nguyện giao nộp chiếc xe mô tô hiệu Honda Future màu trắng, biển số: 67L2 - 836.88 cho Cơ quan Công an. Ông Trần Văn T5 sau khi phát hiện xe mô tô hiệu Honda Future màu trắng, biển số 67L2 – 836.88 bị mất trộm nên đến Công an P2, Quận E trình báo. Vụ việc được chuyển đến Cơ quan CSĐT Công an Q2 thụ lý giải quyết.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2, T và P đã khai nhận cùng nhau trộm cắp chiếc xe mô tô hiệu Honda Future màu trắng, biển số 67L2 – 836.88 của ông Trần Văn T5 như đã nêu trên.

Ông Trần Văn T5 trình bày lời khai khoảng 21 giờ ngày 02/4/2024 ông để chiếc xe mô tô hiệu Honda Future màu trắng, biển số 67L2 – 836.88 trước nhà số C đường T, Phường A, Quận E, xe không khóa cổ, không có người trông coi rồi đi vào nhà bên trong. Đến khoảng 23 giờ 15 phút cùng ngày, ông ra về và phát hiện xe đã bị kẻ gian trộm cắp mất tuy nhiên do bận việc cá nhân nên đến ngày 09/4/2024 ông mới đến Công an P2, Quận E trình báo sự việc.

Bà Huỳnh Thị Thùy T7 (sinh năm 1995, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long khai bà và T là bạn bè xã hội. Trước đó bà có nhờ T tìm mua giúp một chiếc xe mô tô cũ dể sử dụng đi làm. Ngày 03/4/2024 T liên lạc với bà nói có chiếc xe mô tô hiệu Future do T mới mua từ cửa hàng cầm đồ và kêu bà lấy đi. Ngày 04/4/2024 bà T7 cùng chồng đi đến nhà T, T có đưa giấy đăng ký xe cùng bảo hiểm xe và nói bà lấy xe về chạy. Bà T7 nhận thấy xe có giấy tờ đầy đủ nên dự định chạy xe một thời gian thấy ổn sẽ trả tiền mua xe của T. Bà T7 dùng xe trên đi làm được 04 ngày thì được Cơ quan Công an thông báo xe đang sử dụng là xe bị trộm cắp. Bà đã tự nguyện giao nộp lại xe cho cơ quan công an.

Ông Nguyễn Hoàng N1 trình bày lời khai: Vào năm 2011 ông có mua chiếc xe mô tô Yamaha Exciter, có số khung: RLCE55P10BY016495, số máy: 55P1-016498 để sử dụng. Khoảng tháng 4/2024, ông có đến người bạn tại 1 N, Phường I, Quận E chơi và có đậu xe trước cửa nhà sau đó đi về thì phát hiện bị mất xe. Ông không đến Công an P3, Quận E trình báo.

Ông Lê Thái T8 trình bày lời khai: Biển số 59B1-594.62 là của xe mô tô Honda Airbale (Số khung RLHJF6329KZ028784; Số máy: JF63E2427524) do ông T8 đứng tên chủ sở hữu. Ngày 11/03/2024, ông T8 bán chiếc xe trên cho ông Nguyễn Tấn T6 với giá 10.000.000 đồng. Cả hai có làm hợp đồng mua bán xe và ông T8 có làm giấy ủy quyền để ông T6 làm thủ tục sang tên xe.

Ông Nguyễn Tấn T6 trình bày lời khai: Sau khi mua xe của ông T8 như nêu trên, ông T6 có nộp hồ sơ đến Công an thành phố T để làm thủ tục sang tên xe. Tuy nhiên, vào ngày 17/03/2024 ông T6 điều khiển xe đến nhà bạn trên đường N, phường B, thành phố T (không nhớ số nhà) chơi và đậu xe trước cửa nhà, đến khi ra về thì phát hiện xe bị mất.

Vật chứng thu giữ trong vụ án: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Future màu trắng, biển số: 67L2 - 836.88; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter có số khung: RLCE55P10BY016495, số máy: 55P1-016498 gắn biển số: 59B1-594.6; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo T302A; 01 (một) áo thun màu đỏ; 01 (một) quần Jean lửng màu xám; 01 (một) nón bảo hiểm màu trắng; 01 (một) nón lưỡi trai màu đen.

Tại Kết luận định giá số 36/KL-HĐĐGTS ngày 19/4/2024 của Hội đồng Định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Quận E - Ủy ban nhân dân Quận E kết luận: “Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Future F1, biển số: 67L2 - 836.88, tại thời điểm định giá tháng 4/2024 có trị giá 22.000.000 đồng”.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Trần Văn T5 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường.

Tại Bản cáo trạng số 98/CT-VKS-Q5 ngày 16/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Vương Quốc T và Nguyễn Hồng P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

Các bị cáo Vương Quốc T và Nguyễn Hồng P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng nêu trên; các bị cáo thống nhất với tội danh và khung hình phạt như cáo trạng đã nêu, thừa nhận việc truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận như sau:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Vương Quốc T và Nguyễn Hồng P về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về đánh giá vai trò của các bị cáo trong thực hiện hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo: Nhận thấy, bị cáo T là chủ mưu, người thực hành; bị cáo P là người giúp sức thực hiện hành vi phạm tội; tuy nhiên quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản bị chiếm đoạt đã thu hồi trả cho bị hại; bị cáo T phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; riêng bị cáo P có nhân thân xấu nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 (đối với bị cáo T) và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (đối với bị cáo P), xử phạt bị cáo Vương Q1 Tâm hình phạt tù giam với mức án từ 01 (một) năm 06 tháng đến 02 (hai) năm tù; xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng P từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù; về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo T 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo T302A; tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) áo thun màu đỏ; 01 (một) quần Jean lửng màu xám; 01 (một) nón bảo hiểm màu trắng; 01 (một) nón lưỡi trai màu đen.

Các bị cáo không tranh luận và nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để sớm quay về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q2, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Đối với bà Huỳnh Thị Thùy T7, qua quá trình điều tra, căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ nhận thấy bà T7 đã cung cấp lời khai đầy đủ về các tình tiết trong vụ án; không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo; việc sử dụng tài sản do các bị cáo chiếm đoạt trong một thời gian do không biết tài sản do phạm tội mà có; bà T7 cũng đã trả lại ngay tài sản bị chiếm đoạt cho cơ quan Cảnh sát điều tra có thẩm quyền nên Hội đồng xét xử không triệu tập bà T7 tham gia phiên tòa xét xử các bị cáo với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp.

Đối với sự vắng mặt của bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các ông Trần Văn T5, Nguyễn Hoàng N1, Nguyễn Tấn T6 tại phiên tòa, xét thấy: Tại giai đoạn điều tra, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Cơ quan điều tra lấy lời khai theo đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì về dân sự trong vụ án do đó sự vắng mặt của bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nêu trên không ảnh hưởng đến việc xét xử tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nêu trên theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021.

[3] Về tội phạm đã thực hiện của các bị cáo:

[3.1] Căn cứ vào lời khai nhận tội của các bị cáo Vương Quốc T và Nguyễn Hồng P tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa công khai, qua xét hỏi các bị cáo Vương Quốc T và Nguyễn Hồng P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người biết việc, kết luận định giá, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 21 giờ ngày 02/4/2024, tại trước nhà số C T, Phường A, Quận E, bị cáo Vương Quốc T và Nguyễn Hồng P đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Future màu trắng, biển số: 67L2 - 836.88 của ông Trần Văn T5. Tại Kết luận định giá số 36/KL-HĐĐGTS ngày 19/4/2024 của Hội đồng Định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Quận E - Ủy ban nhân dân Quận E kết luận: “Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Future F1, biển số: 67L2 - 836.88, tại thời điểm định giá tháng 4/2024 có trị giá 22.000.000 đồng”.

Như vậy, trị giá tài sản bị cáo Vương Quốc T và Nguyễn Hồng P đã chiếm đoạt của bị hại là 22.000.000 đồng (hai mươi hai triệu đồng), có trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng.

Xét các bị cáo đều là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Do đó, hành vi của các bị cáo Vương Quốc T và Nguyễn Hồng P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3.2] Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của các bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[4] Về đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi của các bị cáo đã gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, gây tâm lý lo lắng cho người dân. Các bị cáo mặc dù nhận thức được hành vi xâm phạm quyền sở hữu của người khác là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì muốn chiếm đoạt tài sản của người khác nên vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Đây là vụ án có đồng phạm nhưng mang tính giản đơn; bị cáo T là người khởi xướng, rủ rê, người thực hành hành vi phạm tội; bị cáo P là giúp sức và hai bị cáo cùng cấu kết với nhau thực hiện hành vi đưa tài sản ra khỏi tầm quản lý của chủ sở hữu để chiếm đoạt. Do đó, Hội đồng xét xử cần xem xét vai trò của mỗi bị cáo trong việc thực hiện hành vi phạm tội để quyết định hình phạt tương xứng.

[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:

[5.1] Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5.2] Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo tỏ ra thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; tài sản chiếm đoạt đã thu hồi trả cho bị hại, do đó thiệt hại gây ra không lớn, cần xem là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; đối với bị cáo Vương Quốc T, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, là tình tiết giảm nhẹ theo điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ nêu trên để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

[5.3] Nhân thân của các bị cáo:

Bị cáo Nguyễn Hồng P có nhân thân xấu, từng bị kết án nhiều lần về các tội xâm phạm sở hữu nay tiếp tục phạm tội xâm phạm sở hữu của người khác cho thấy sau khi chấp hành xong hình phạt tù, hòa nhập cộng đồng bị cáo không chịu sửa đổi, rèn luyện bản thân để thành người có ích cho xã hội mà lại tiếp tục phạm tội, thể hiện ý thức xem thường pháp luật.

[6] Về hình phạt áp dụng đối với các bị cáo:

Qua đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải có một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo nhằm mục đích giáo dục, cải tạo các bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung. Do đó, căn cứ Điều 50 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết bắt các bị cáo chấp hành hình phạt tù với một thời gian nhất định để có thể cải tạo các bị cáo thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Do đó, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, nhận thấy tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại, các bị cáo chưa thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội và không có nghề nghiệp, không có thu nhập, không có khả năng thi hành hình phạt tiền. Căn cứ khoản 2 Điều 50 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Future màu trắng, biển số: 67L2 - 836.88, là tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2 đã trả lại cho bị hại là đúng quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử không xem xét thêm;
  • + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter có số khung: RLCE55P10BY016495, số máy: 55P1-016498, do bị cáo T điều khiển thực hiện hành vi phạm tội, thấy rằng: Bị cáo T khai mua trên mạng xã hội của một người không rõ lai lịch, không có giấy đăng ký xe, không có giấy tờ chứng minh quyền sở hữu. Theo kết quả xác minh phương tiện xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter có số khung số máy không thay đổi là của phương tiện xe mô tô Yamaha Exciter, biển số 63B2-060.74 do ông Nguyễn Hoàng N1 đứng tên chủ sở hữu. Xét lời khai của ông N1 khoảng tháng 4/2024, ông có đến người bạn tại 1 N, Phường I, Quận E chơi và có đậu xe trước cửa nhà sau đó đi về thì phát hiện bị mất xe; do đó, có cơ sở xác định ông N1 là chủ sở hữu phương tiện hợp pháp; T sử dụng chiếc xe không rõ nguồn gốc, không chứng minh được quyền sở hữu, cơ quan điều tra đã trả lại cho ông N1 là đúng quy định theo điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử không xem xét thêm;
  • Đối với biển số xe 59B1-594.65 (được gắn với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter nêu trên): Kết quả xác minh do ông Thái Minh T9 đứng tên chủ sở hữu, phương tiện đăng ký là xe mô tô Honda Airbale, số khung RLHJF6329KZ028784; số máy: JF63E2427524. Xét lời khai của ông T9 về việc đã bán xe mô tô nêu trên cho ông Nguyễn Tấn T6 và lời khai của ông T6 về việc bị mất trộm xe mô tô Honda Airbale là phù hợp; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2 đã trả biển số xe nêu trên cho ông Nguyễn Tấn T6 là đúng quy định theo điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử không xem xét thêm.
  • + 01 (một) áo thun màu đỏ; 01 (một) quần Jean lửng màu xám; 01 (một) nón bảo hiểm màu trắng; 01 (một) nón lưỡi trai màu đen. Xét đây là các vật dụng cá nhân của bị cáo T, không còn giá trị sử dụng và tại phiên tòa bị cáo không có yêu cầu gì với những tài sản này nên tịch thu tiêu huỷ theo điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • + 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo T302A, số IMEI: 869347032375334. Xét thấy chiếc điện thoại nêu trên là tài sản cá nhân của bị cáo T, không dùng vào việc phạm tội, nên trả lại cho bị cáo T theo điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Đối với bà Huỳnh Thị Thùy T7 không biết xe mô tô hiệu Honda Future màu trắng, biển số: 67L2 - 836.88 mà Vương Q1 Tâm giao cho bà T7 sử dụng do T phạm tội mà có nên không có cơ sở xử lý là phù hợp.

[10] Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố các bị cáo để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo cũng như các vấn đề xử lý vật chứng là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, đúng quy định nên được chấp nhận.

[11] Về án phí: Người bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38, Điều 50; điểm i và s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,

Xử phạt bị cáo Vương Quốc T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 10 tháng 4 năm 2024.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38, Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 16 tháng 4 năm 2024.

2. Căn cứ điểm c khoản 2, điểm a và b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021 ; khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,

  • - Trả lại cho bị cáo Vương Q1 Tâm 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo T302A, số IMEI: 869347032375334;
  • - Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) áo thun màu đỏ; 01 (một) quần Jean lửng màu xám; 01 (một) nón bảo hiểm màu trắng; 01 (một) nón lưỡi trai màu đen;

(Tình trạng giao nhận vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/7/2024 giữa Công an Q2 và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).

3. Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Buộc bị cáo Vương Quốc T và bị cáo Nguyễn Hồng P mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021,

Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP. HCM;
  • - Sở Tư pháp TP. HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 5;
  • - Cơ quan CSĐT Công an Quận 5;
  • - Bộ phận THA HS Tòa án Quận 5;
  • - Phòng PV 06 Công an TP. HCM;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Lê Thị Linh Sương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2024/HS-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 110/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vương Quốc T-Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger