Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẠ LONG

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 110/2024/HS-ST

Ngày 26 - 04- 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG - TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thanh Thúy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Như Toản

Bà Phạm Thị Hiền

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Trung Hiếu - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 04 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 86/2024/TLST- HS ngày 08 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 97/2024/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại 02 điểm cầu: điểm cầu trung tâm: Hội trường xét xử số 1 Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh và điểm cầu thành phần: Phòng xét xử trực tuyến – Nhà tạm giữ Công an thành phố H đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Văn T, sinh ngày 11 tháng 7 năm 1976 tại Quảng Ninh; nơi cư trú: Tổ A, khu D, phường Đ, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 07/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: nam; con ông Lê Huy C bà Đào Thị T1; có vợ đã ly hôn và có 01 con (sinh năm 2008); tiền án: không; tiền sự: tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 95 ngày 20/9/2021, Công an thị xã Q xử phạt 2.000.000đồng, về hành vi “Trộm cắp tài sản” (bị cáo chưa thực hiện nộp phạt).

Bị cáo bị tạm giữ từ 22/12/2023 và tạm giam từ ngày 31/12/2023, hiện đang tạm giam trại Trại tạm giam Công an tỉnh Q có mặt

- Người chứng kiến: anh Nguyễn Lôi P, anh Bùi Tuấn A; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Văn T dụng ma túy từ năm 2013. Khoảng 09 giờ 40 phút, ngày 22/12/2023, T đến ngã ba H thuộc phường H, thành phố H và mua của một người đàn ông không quen biết 02 (hai) túi ma túy, với giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), mục đích để sử dụng.

Sau khi mua được ma túy, T giấu trong người và đến khoảng 09 giờ 50 phút cùng ngày, khi T đi đến khu vực đoạn đường tổ I, khu C, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh để tìm nơi sử dụng ma tuý thì bị Công an phường H kiểm tra phát hiện, bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ tại túi quần trái của Lê Văn T gói giấy, bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy A05s, màu xanh, số thuê bao 0377.121.8364.

Tại bản kết luận giám định số 1836/KL-KTHS ngày 27/12/2023, của Phòng Công an tỉnh Q kết luận: Chất bột màu trắng có trong 02 gói giấy, thu giữ của Lê Văn T ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,219 gam (không phảy hai một chín gam).

Vật chứng, tài sản trong vụ án: Số ma túy thu giữ của Lê Văn T lại sau giám định; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy A05s, màu xanh, số thuê bao 0377.121.836, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H để quản lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản Cáo trạng số 81/CT – VKSHL ngày 29/3/2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Lê Văn T tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung tóm tắt vụ án đã nêu và thừa nhận bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh truy tố đúng người, đúng tội.

Người chứng kiến anh Nguyễn Lôi P, anh Bùi Tuấn A vắng mặt tại phiên tòa, quá trình điều tra có lời khai thể hiện về thời gian, địa điểm, vật chứng, đối tượng bị bắt giữ (từ bút lục 72 đến bút lục 78)

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố như bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt chính: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 22/12/2023.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: áp dụng c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tịch thu, tiêu hủy 0,11 gam Heroine mẫu vật hoàn lại sau giám định.

Trả lại bị cáo 01 điện thoại nhãn hiệu SamSung (kiểu dáng giống Samsung Galaxy A05s), màu xanh kèm theo 01 sim.

Bị cáo không tranh luận với lời luận tội của Viện kiểm sát; Tại lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về chứng cứ, tài liệu và hành vi, quyết định tố tụng: Những chứng cứ, tài liệu và hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, của Điều tra viên, của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các chứng cứ, tài liệu và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tội danh và hình phạt:

2.1 Về tội danh:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ của vụ án, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 09 giờ 50 phút ngày 22/12/2023, tại đoạn đường thuộc tổ I, khu C, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh Lê Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,219 gam (không phảy hai một chín gam) ma túy Heroine, mục đích để sử dụng thì bị Công an phường H phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.

Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện lỗi cố ý, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy là khách thể được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Ninh truy tố về tội danh và hình phạt đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.

2.2 Về hình phạt:

-Về hình phạt chính:

Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của bị cáo không chỉ xâm phạm đến chính sách quản lý ma tuý của Nhà nước mà còn trực tiếp tiếp tay cho các đối tượng bán ma tuý trái phép, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Trước khi phạm tội trong vụ án này, bị cáo có một tiền sự, qua đó thể hiện sự thiếu ý thức chấp hành pháp luật và rèn luyện bản thân. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo cũng như để tăng cường phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

-Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[3]. Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ:

- 0,11 gam Heroine mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì còn niêm phong số 1836 ngày 27/12/2023 Phòng Công an tỉnh Q là loại chất nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.

- 01 điện thoại nhãn hiệu SamSung (kiểu dáng giống Samsung Galaxy A05s), màu xanh kèm theo 01 sim điện thoại giữ của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

[4]. Về nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải nộp án phí theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

[5]. Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[6]. Về người có hành vi liên quan: đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo không làm rõ được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xem xét, xử lý.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 22/12/2023.

- Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1 và điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy: 0,11 gam Heroin hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong số 1836 ngày 27/12/2023 của Phòng Công an tỉnh Q

Trả lại bị cáo Lê Văn T 01 (một) điện thoại nhãn hiệu SamSung (kiểu dáng giống Samsung Galaxy A05s), màu xanh kèm theo 01 (một) sim điện thoại.

(Tình trạng, đặc điểm của vật chứng được mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05 tháng 4 năm 2024 giữa Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H).

- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23, danh mục án phí Toà án của Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Lê Văn T nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.

- Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo:
  • - VKSND, CA Tp. Hạ Long;
  • - Chi cục THADS Tp. Hạ Long;
  • - Cơ quan THAHS CA Tp. Hạ Long;
  • - Trạm tạm giam CA tỉnh QN;
  • - TAND, VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh.
  • - Lưu hồ sơ, VP./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thanh Thúy

Bị cáo Lê Văn T mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 110/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Toàn, tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger