|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 110/2024/DS-ST
Ngày 26-4-2024
V/v tranh chấp hợp đồng mua bán
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Len
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Việt Thắng
Ông Huỳnh Văn Năm
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Nga Muội – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.
- Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời: Bà Võ Hồng Luyến – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 806/2023/TLST-DS ngày 11 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 142/2024/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Tăng Tấn L, Sinh năm 1972 (có mặt)
Địa chỉ cư trú: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: 1. Ông Trần Quốc D, Sinh năm 1966 (xin vắng mặt)
2. Bà Trương Tú A, Sinh năm 1969 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Tăng Tấn L trình bày:
Từ ngày 09/4/2021 ông có bán phân bón, vật tư nông nghiệp cho vợ chồng ông D, bà A thiếu tổng số tiền 17.477.000 đồng, đến ngày 16/9/2021 ông D và bà A đã trả cho ông được 7.477.000 đồng, còn lại thiếu 10.000.000 đồng. Sau đó tiếp tục mua thêm số tiền thiếu 10.530.000 đồng. Tổng số các lần mua còn thiếu 20.530.000 đồng, mỗi lần vợ chồng ông D, bà A mua phân bón, vật tư nông nghiệp và trả tiền ông có sổ theo dõi, số theo dõi là ông tự ghi, vợ chồng ông D, bà A không có ký xác nhận. Mỗi lần vợ chồng ông D, bà A mua phân bón, vật tư ông N ông có ghi phiếu bán hàng cho vợ chồng ông D và bà A. Kết nợ ông D, bà A thiếu ông 20.530.000 đồng ông có ghi giấy nợ do vợ chồng ông D, bà A giữ.
Ông Trần Quốc D trình bày: Do ông thường xuyên đi làm ăn ít ở nhà, còn việc vợ ông bà Trương Tú A mua phân thuốc của ông L như thế nào thì ông không biết. Do điều kiện đi lại khó khăn ông đề nghị Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ở các phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm (nếu có).
Bà Trương Tú A trình bày: Khoảng năm 2020 vợ chồng bà có mua phân thuốc nông nghiệp của ông L nhiều lần, số tiền vợ chồng bà đã trả chỉ còn nợ ông L khoảng 5 triệu đồng, việc bà thiếu tiền ông L thì ông L có ghi sổ theo dõi bà đang giữ, sẽ cung cấp cho Tòa án.
Tại phiên tòa phần tranh luận:
Ông L giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu bà A, ông D trả ông 20.530.000 đồng
Ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát như sau:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L, buộc bà Trương Tú A, ông Trần Quốc D trả ông L 20.530.000 đồng.
Án phí sơ thẩm đương sự phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, qua kết quả tranh luận công khai tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét toàn diện tài liệu, chứng cứ, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[1] Về tố tụng: Xét về thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp hợp đồng mua bán theo Điều 430 Bộ luật dân sự, bị đơn có nơi cư trú tại huyện T, do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vắng mặt đương sự: Bà Trương Tú A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vắng mặt, ông Trần Quốc D xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự trên đúng theo quy định.
[2] Về Nội dung: Ông L xác định trong năm 2021 ông có bán phân bón, vật tư nông nghiệp cho vợ chồng ông D, bà A nhiều lần, còn thiếu số tiền 20.530.000 đồng, nay ông yêu cầu vợ chồng ông D, bà A trả số tiền còn thiếu 20.530.000 đồng, bà Trương Tú A thừa nhận vợ chồng bà có mua phân bón thuốc vật tư nông nghiệp của ông L nhưng đã trả và chỉ còn thiếu hơn 5 triệu đồng.
[3] Hội đồng xét xử thấy rằng việc vợ chồng ông D, bà A mua phân bón vật tư nông nghiệp của ông L là thực tế có xãy ra, nhưng các bên không thống nhất số tiền ông D, bà A còn thiếu ông L. Bà A cho rằng chỉ còn thiếu ông L hơn 5 triệu đồng nhưng không cung cấp tài liệu chứng cứ để chứng minh cho lời trình bày cảu mình. Do đó lời trình bày của bà A không được chấp nhận, chấp nhận lời trình bày của ông L là có căn cứ.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L buộc ông D, bà A trả cho ông L số tiền 20.530.000 đồng là đúng quy định tại Điều 440 Bộ luật dân sự.
Phát biểu kiểm sát viên tại phiên tòa có căn cứ được chấp nhận.
[4] Án phí sơ thẩm: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn ông Trần Quốc D, bà Trương Tú A phải chịu án phí 1.025.000 đồng (làm tròn), Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 430, 440 Bộ luật dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Tăng Tấn L đối với ông Trần Quốc D, bà Trương Tú A.
Buộc ông Trần Quốc D, bà Trương Tú A trả cho ông Tăng Tấn L số tiền 20.530.000 đồng đồng (Hai mươi triệu, năm trăm ba mươi ngàn đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người bị thi hành án không tự nguyện thi hành xong thì phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.
-
Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông Trần Quốc D, bà Trương Tú A phải chịu án phí 1.025.000 đồng (làm tròn).
Ông Tăng Tấn L không phải chịu án phí, ngày 11/10/2023 ông L đã dự nộp tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án 513.000 đồng biên lai thu số 0007494 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời được nhận lại.
-
Án xử sơ thẩm: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định; Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn L1 |
Bản án số 110/2024/DS-ST ngày 26/04/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng mua bán
- Số bản án: 110/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Tăng Tấn L yêu cầu bà Trương Tú A trả số tiền mua bán
